Phân tích tác phẩm Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương

Dưới đây là một bài phân tích cho các em tham khảo, chị mong rằng nó sẽ giúp ích cho các em trong việc học tập, vì bài khá dài nên nếu mà có lỗi chính tả thì các em vui lòng cmt bên dưới để chị chỉnh sửa nghen, các em có thể viết liên tiếp phần thân bài không cần tách đoạn (chỉ tách đoạn khi trích thơ và phân tích sang khổ khác) . Nếu các em thấy bài hay thì rate cho chị 5 sao nha, cảm ơn các em, chúc các em học tập tốt và thành công trên con đường mình lựa chọn nè

Mở bài 

  • “Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
  • Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa” (Tố Hữu)

Bác đã đi xa, cả nước ai cũng đau buồn, nỗi đau mất Bác. Những bài thơ viết về Bác lúc nào cũng được thể hiện tràn đầy cảm xúc và một trong những bài thơ thành công được nhắc đến nhiều nhất chính là “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Mạch cảm xúc của bài thơ là tất cả nỗi niềm thành kính, tự hào, biết ơn pha lẫn với niềm đau xót và nuối tiếc không nguôi. Viễn Phương đã xây dựng hình ảnh thơ tràn ngập sức khái quát và mang tính biểu cảm cao. Có thể nói “Viếng Lăng Bác” là một bài thơ nổi tiếng được nhiều người biết đến và đã được phổ thành nhạc.

Thân bài

  • Bài thơ được viết vào năm 1976, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam kết thúc thắng lợi, đất nước độc lập và tác giả lần đầu tiên ra miền Bắc viếng lăng của Bác. Lúc đó, lăng của Bác vừa được thành lập. Sau dịp đó,  bài thơ cũng được ra đời, bài thơ ngắn gọn, súc tích mang niềm xúc động, thiêng liêng, tấm lòng tha thiết của một người lần đầu được ra viếng lăng Bác. Cảm xúc đầu tiên là cảnh quan ở bên ngoài lăng Bác
  • Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
  • Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
  • Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
  • Bão táp mưa sa đứng thẳng hang

Câu thơ mở đầu bài thơ, nhà thơ đã sử dụng lời xưng hô là “con”. Đây cũng chính là một lời thông báo đơn giản mà cảm xúc đã tràn ngập của đứa con phương xa về thăm cha. Mạch vận động của cảm xúc đi theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác. Và hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy được và cũng là ấn tượng đậm nét về cảnh quan bên ngoài lăng Bác là “hàng tre”. Tại sao trong câu thơ đầu tiên Viễn Phương không sử dụng từ “viếng” mà thay vào đó là từ “thăm”? Đó là bởi vì tác giả đã sử dụng nghệ thuật nói giảm nói tránh như thể Bác vẫn còn sống ở bên cạnh mọi người. Đến câu thơ thứ ba, ta có thể thấy rằng ngút ngàn là tre, bát ngát vẫn là tre.

Chỉ trong hình ảnh đầu tiên mà Viễn Phương đã gợi lên hình ảnh quê hương đất nước, hình ảnh con người Việt Nam rất gần gũi. Hình ảnh “hàng tre” bên lăng Bác tươi nguyên một sắc xanh Việt Nam, tượng trưng cho cả dân tộc Việt Nam trường tồn, bất diệt, tạo không khí trang nghiêm, thành kính khiến lời thơ dung dị trở nên có chiều sâu, suy nghĩ và cảm xúc. Biện pháp nhân hóa hàng tre “đứng thẳng hàng” đã làm tôn lên sự trang nghiêm, uy nghi nơi Bác yên nghỉ.

Đến khổ thơ tiếp theo là cảm xúc bất tận về dòng người vào lăng viếng Bác

  • Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
  • Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
  • Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
  • Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Khổ thơ thứ hai được tạo nên từ hai cặp câu với những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ giàu sức khái quát, là những sáng tạo nghệ thuật giàu sức biểu cảm. Hình ảnh “mặt trời” đi qua trên lăng là một hình ảnh thực, gợi tả cái rực rỡ của thiên nhiên, là nguồn sáng sưởi ấm cho nhân loại. “Mặt trời” trong lăng là một hình ảnh ẩn dụ, vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ, vừa thể hiện được sự tôn kính của nhân dân, của đứa con miền Nam_Viễn Phương đối với Bác. Mặt trời trong lăng rất “đỏ” khiến cho chúng ta liên tưởng đến một trái tim đầy nhiệt huyết, chân thành, một trái tim tràn đầy tình yêu nước, thương dân của Bác Hồ. Hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” là hình ảnh thực “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín màu xuân” là một ẩn dụ đẹp và rất sáng tạo của Viễn Phương.

Hình ảnh thơ hàm chứa nhiều tầng nghĩa nhằm nói lên lòng thành kính, niềm biết ơn vô hạn đối với vị cha già của dân tộc đã dâng hiến bảy mươi chín mùa xuân của cuộc đời mình để đem lại mùa xuân vĩnh cửu cho con dân đất Việt. Nhà thơ Viễn Phương đã chọn lọc những từ ngữ rất tinh tế nên các câu thơ mang giá trị biểu cảm và tính hình tượng cao. Điệp ngữ “ngày ngày” làm cho âm điệu bài thơ kéo dài ra với thời gian liên tục không dứt, cảm xúc càng lúc càng trào dâng.

Đoạn thơ thứ ba là một bước ngoặc cảm xúc. Đây chính là cảm xúc và suy nghĩ của tác giả khi vào trong lăng.

  • Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
  • Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
  • Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
  • Mà sao nghe nhói ở trong tim

Giọng thơ bỗng chuyển dần sang suy tư trầm lắng pha lẫn niềm đau xót, nuối tiếc. Lời thơ êm ái, nhẹ nhàng, giọng thơ gợi niềm xúc động đau xót chân thành. Bác gắn bó với thiên nhiên, nhất là với trăng thì giờ đây khi Bác đã đi xa, trăng vẫn bầu bạn, thủy chung, vỗ về và luôn gần gũi bên Bác. Hình ảnh “vầng trăng” dịu hiền lại gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác cùng với những vầng thơ đầy ánh trăng của Người

  • Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
  • Xuân  giang, xuân thủy tiếp xuân thiên

Ở câu thơ cuối cùng, ta có thể thấy rằng chỉ một từ “nhói” đã diễn tả được chiều sâu của nỗi đau ấy trong trái tim đang thổn thức của nhà thơ.

Giây phút phải chia xa để trở về miền Nam thân yêu, khổ thơ cuối cùng đã nói lên niềm mong ước thiết tha khi sắp phải trở về quê hương miền Nam

  • Mai về miền Nam thương trào nước mắt
  • Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
  • Muốn làm đóa hoa toản hương đâu đây
  • Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Cụm từ “thương trào nước mắt” nghe sao mà xót xa, gợi lên tâm trạng lưu luyến, nuối tiếc khôn nguôi. Giọng thơ trầm lắng xuống nhưng nguyện vọng tha thiết lại nghèn nghẹn không nói nên lời, cảm xúc đang tràn ngập. Nhưng tác giả biết rằng đã đến lúc phải nói lời từ biệt, nhưng lại muốn gửi tấm lòng của mình bằng cách hóa thân thành con chim cất cao tiếng hót, muốn làm bông hoa tỏa hương thơm và hơn hết, Viễn Phương muốn làm “cây tre trung hiếu” đẻ cùng hòa nhập vào hàng tre bát ngát bên lăng Bác. Địa danh “miền Nam” và hình ảnh “cây tre” được lặp lại để hoàn tất một cuộc hành hương. Câu thơ cuối bài bổ sung nét nghĩa mới cho hình ảnh “cây tre, hàng tre” ở khổ thứ nhất. Chi tiết này làm hoàn chỉnh biểu tượng cây tre Việt Nam, con người Việt Nam ở hai phẩm chất quan trọng của con người đó là trung với nước và hiếu với dân. Nhà thơ Vương Trọng lúc phải chia tay Bác cũng có tâm trạng như Viễn Phương

  • Muốn dừng bên Bác lâu hơn
  • Chân xa từng bước, đầu còn ngoái sau

Thành công lớn nhất của Viễn Phương chính là nghệ thuật đặc sắc của ông. Giọng điệu của bài thơ tràn đầy cảm xúc. Mạch cảm xúc theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác nhưng nét chính vẫn là thành kính, thiêng liêng pha lẫn nỗi niềm nuối tiếc, phù hợp với tâm trạng của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác. Thể thơ tám chữ nhưng có một số câu xen vào đến chín chữ hoặc chỉ còn bảy chữ để thể hiện chiều sâu tâm trạng của Viễn Phương. Nhịp thơ lúc đầu tuy chậm nhưng càng về sau thì trở nên nhanh hơn để thể hiện cái ước nguyện và tấm lòng của Viễn Phương. Bài thơ có nhiều hình ảnh ẩn dụ đặc sắc như “mặt trời”, “vầng trăng”, “mùa xuân”. Cuối cùng ta có thể nói rằng đây là một sáng tạo nghệ thuật mang giá trị biểu cảm cao.

Kết bài

Cảm hứng bao trùng trong bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác. Giọng điệu trang trọng và tha thiết phù hợp với tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ khi vào lăng viếng vị cha già dân tộc. Hình ảnh sáng tạo, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị mà cô đúc.

Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha

179 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá 4.9 / 5. Số đánh giá 130