Những điều tôi biết được về thời đại Hùng Vương qua cuốn sách cùng tên

Thời đại Hùng Vương là thời đại đầy bí ẩn trong lịch sử dân tộc ta từ xưa cho đến nay. Từ đời Trần, người ta đã bắt đầu đề cập đến thời đại Hùng vương cho đến nay đã trải qua mấy trăm năm. Từ năm 1960, Viện sử học bắt đầu nghiên cứu về vấn đề này. Đến năm 1969, Hội đồng khoa học Viện sử học đã quyết định sơ kết 10 năm công tác nghiên cứu của Viện về vấn đề thời đại Hùng vương. Công tác này giáo cho nhóm học giả Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đồng Chi, Hoàng Hưng. Gần đây, năm 2008, nhà xuất bản Văn học đã tái bản cuốn sách này.

Bìa sách

Bìa sách

Đó chính là cuốn sách “Thời đại Hùng Vương (Lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội). Trong một lần đến thư viện, tôi đã tình cờ gặp và mang về đọc cuốn sách này. Và cũng từ cuốn sách này đã giúp tôi hiểu thêm phần nào về thời đại Hùng vương, hiểu thêm về thơi đại gắn liền sâu sắc với truyền thuyết. Nhân hôm nay, tôi xin gửi đến các bạn đọc những điều tôi biết được từ việc tiếp xúc với cuốn sách ấy.

Thứ nhất, đó chính là về bờ cõi, tên nước, dân cư

Truyền thuyết dựng nước Văn Lang mà hầu như chúng ta đều biết đó chính là truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Theo đó, sau khi chia tay với Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng 50 người con đến định cư Phong Châu, tôn con trưởng làm Hùng Vương, dựng nước Văn Lang. Và truyền thuyết cho rằng, trăm người con ấy chính là tổ tiên của tộc Bách Việt. Theo Lĩnh Nam Chích Quái, nước Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành), Bắc tới Động Đình hồ. Tức là bờ cõi nước Văn Lang bao gồm cả vùng Bách Việt.

Từ quá trình nghiên cứu 10 năm, các tác giả đã đưa ra kết luận và cho rằng đều đó không hợp lý. Họ khẳng đinh bờ cõi nước Văn Lang chỉ bao gồm một phần phía Nam hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc), miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay. Trên vùng đất đó có những nhóm tộc khác nhau ở thành vùng gọi là “bộ”. Và theo tìm hiểu, họ cho rằng nước Văn Lang là bao gồm 15 bộ lạc sinh sống trên vùng đất đó, tập hợp lại mà thành nước như vậy. Và bộ Văn Lang được xem là chủ đạo.

Tên gọi Văn Lang được các tác giả khẳng định là có thật từ việc nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu quý báu.  Họ đã chuyển đổi phương hướng bằng ngôn ngữ học để giải thích hai từ “Văn Lang”. Các tác giả khẳng định, những tộc danh “Lang”, “Văn Lang”, “Dạ Lang”… đã bắt đầu từ một danh từ chung, có nghĩa là “đàn ông”, “người”, với những hình thái biến đổi khác nhau tùy theo ngôn ngữ, phương ngữ và tùy theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Các tác giả cho rằng, nếu chấm trên bản đồ thì sẽ thấy khu vực có tộc danh với thành tố lang trải ra từ Nam sông Dương Tử cho đến miền Trung bộ Việt Nam, tập trung nhất ở vùng Lưỡng Quảng, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Từ việc tìm theo ngôn ngữ học lịch sử, các tác giả đã rút ra kết luận rằng tộc danh “Văn Lang” có thể là một trong những tộc danh cổ nhất của dân tộc ta, và thực tế đã trở thành quốc hiệu của nước ta thời các vua Hùng. Tộc danh cũng chỉ cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ về họ hàng, ngôn ngữ với tộc người xung quanh địa bàn sinh tụ của họ. Thành tố lang mà các tác giả phân bố khắp trùng khớp với bờ cõi nước Văn Lang.

Và với bằng chứng của giới khảo cổ học, các tác giả xác định rằng vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã có những lớp cư dân đến đây sinh sống khá sớm so với những vùng khác của nước Văn Lang. Và khoảng thời gian được xác định là từ khoảng thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên trở lại đây. Ven rìa phía bắc và tây bắc của đồng bằng bắc bộ lại được con người khai phá sớm hơn là những vùng trung tâm. Và thông qua những tài liệu khảo cứu, các giả đã khẳng định rằng, ngay từ thuở dựng nước, đất nước ta đã là nơi  có nhiều dân tộc anh em chung sống, cùng xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thứ hai, đó là về kinh tế

Bằng những nghiên cứu, các tác giả xác định xã hội Văn Lang có nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định. Nông nghiệp đã tiến lên dùng cày; nghề luyện kim và làm gốm đặc biệt phát triển; bước đầu quan hệ mậu dịch với láng giềng. Những hoạt động ấy đã được ghi lại trong sử sách. Các tác giả còn chia sự phát triển kinh tế nước Văn Lang thành hai giai đoạn: thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên và thời kỳ văn hóa Đông Sơn (thời kỳ cực thinh của thời đại Hùng vương). Nông nghiệp và Thủ công nghiệp thể hiện rõ nhất hai cái mốc trên.

Về nông nghiệp, các tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề. Ruộng đất của các cư dân Văn Lang chia làm ba hạng là ruộng đất phù sa ở ven sông, ruộng trũng quanh các đồng hồ và ruộng trên các gò đồi miền trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trong đó, hạng ruộng tốt nhất, nhiều nhất là ruộng phù sa ở ven sông. Với những kết quả của nghiên cứu về văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn, các tác giả đã phân loại được các công cụ sản xuất, dụng cụ của các cư dân theo từng thời kì và thể hiện sự tiến bộ của cư dân Văn Lang. Các loại lúa, cây trồng, súc vật đều được tìm thấy thông qua di tích, di vật.

Bằng những bằng chứng khảo cổ học, các tác giả đã cho ta thấy thời đại Hùng vương tương ứng với sự phát triển của các nền văn hóa cổ đại, các nghề đúc đồng, làm sắt, làm gốm cũng ra đời và phát triển mạnh mẽ. Tùy vào từng thời kì khác nhau, mà chất liệu của sản phẩm có thay đổi. Đó là sự chuyển hóa của đồng – sắt và ngược lại. Nhưng sự ra đời của mũi tên đồng đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng sự phát triển về mặt quân sự của người Văn Lang đã đạt đến trình độ nhất định. Điều đó khẳng định mũi tên thần trong truyền thuyết Trọng Thủy – Mỵ Châu là có thật. Một loại hình vũ khí lợi hại như vậy được tạo ra để chống giặc ngoại xâm. Sự đề cao cảnh giác trước bọn xâm lăng đã còn từ bấy giờ. Và trong các nghề thủ công, nghề luyện kim là đã trở thành một ngành sản xuất hoàn toàn độc lập, tách hẳn ra khỏi nông nghiệp.

Trước khi nhà nước Văn Lang ra đời đã xuất hiện hiện tượng trao đổi kinh tế và giao lưu văn hóa. Và khi nước Văn Lang ra đời, trao đổi kinh tế giữa các khu vực vẫn diễn ra theo nhịp điệu càng ngày càng chặt chẽ. Từ việc khảo cứu trống đồng – một hiện vật có giá trị sâu sắc về mọi mặt, các tác giả đã khẳng định thời đại Hùng vương đã có quan hệ mậu dịch. Có nghĩa là trống đồng sau khi xuất hiện ở Văn Lang, trở thành sản phẩm được nhiều nước ưa chuộng, và nó đã trở thành hàng hóa đem đi trao đổi. Trên trống đồng có những chiếc thuyền chở trống đồng ở trên sạp. Những chiếc thuyền này mang trống đồng đi trao đổi kinh tế. Và theo suy đoán, ngoài trống đồng ra, ắt hẳn còn có những món hàng hóa khác. Và cũng từ trống đồng, chúng ta biết được người Văn Lang đã dùng những thuyền lớn để làm việc trao đổi kinh tế và trao đổi văn hóa với các nước láng giềng.

Thứ ba, đó là về thể chế xã hội,chính trị, văn hóa

Tổ chức xã hội từ thấp đến cao, bắt đầu từ gia đình. Từ những tài liệu nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định rằng, ghi định thời đại Hùng Vương là gia đình phụ hệ, song yếu tố mẫu hệ cũng còn phần nào in đậm trong các gia đình Văn Lang. Bên cạnh những loại hình gia đình lớn đang bước đầu suy tàn thì xuất hiện những gia đình nhỏ (gồm vợ, chồng, đứa cháu). Chính sự thừa nhận đó đã cho thấy quan hệ dòng họ đã trở nên lỏng lẻo, vậy thời kì này là công xã láng giềng (công xã nông thôn). Nhiều công xã theo mô hình này ra đời do tác động lớn mạnh và chủ yếu từ hiện tượng phân hóa giai cấp, phân hóa xã hội.

Cũng như sự chuyển hóa từ công xã thị tộc sang công xã nông thôn, đồng thời xuất hiện sự chuyển hóa sâu sắc bộ lạc thành bộ tộc. Và đời Hùng vương, đời sống kinh tế của các bộ lạc dần dần mở rộng, những bộ lạc làm nông nghiệp ruộng nước ở lưu vực sông Hồng và sông Mã do trao đổi, chiến tranh, nợ nần, cướp bóc, dần dần trở nên có liên quan với nhau. Các dòng người di chuyển và tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa ở những nơi mà họ mới đến. Lúc này quan hệ lân cận và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trở nên quan trọng. Và sự ra đời của bộ tộc Lạc Việt đã chứng minh cho hiện tượng này. Các tác giả đi sâu tìm hiểu về bộ tộc này với nhiều phương pháp nghiên cứu.

Xã hội thời đại Hùng Vương đã có xuất hiện hiện tượng phân hóa. Tầng lớp quý tộc phần nhiều xuất thân từ những thủ lĩnh to nhỏ: những địa vị của họ dần dần trở nên thế tập, những quyền lực và nhiệm vụ của họ đối với cộng đồng dần dần bị lạm dụng để phục vụ cho quyền lợi ích kỷ. Bên cạnh đó, tàng lớp thấp nhất là nô lệ, là những tù binh, do nợ nần… Ở thời Đông Sơn, việc mua bán nô lệ trở nên phổ biến. Số lượng không nhiều, thường thấy chỉ phục vụ trong các gia đình quý tộc, và trong một số nghề chuyên môn. Ngoài ra còn có thành viên trong công xã, là những người tự do, có địa vị cao hơn nô lệ. Họ là nông dân, ngư dân và những người săn bắn, trong đó nông dân (Lạc dân) chiếm số lượng đông đảo trong xã hội. Thành viên công xã tuy tự do về thân phận, nhưng thực tế là bị lệ thuộc và bị bóc lột tập thể về kinh tế. Do sự phân hóa này dẫn tới mâu thuẫn giữa các tầng lớp đó với nhau nhưng chưa sâu sắc. Nhưng họ chưa phải là giai cấp. Và xã hội Hùng Vương là “xã hội giai cấp bước đầu” ở Việt Nam.

Một xã hội được quản lí bằng một bộ máy hành chính, đó chính là chính quyền Trung ương, đòng thời là đầu não của một quốc gia. Ở nước ta, chính vì sự đoàn kết chống giặc ngoại xâm đã đưa tới hình thành một cơ quan quyền lực tối cao. Nói đến chính quyền Trung ương là nói đến vua, là người đứng đầu cả nước về mặt chính trị. Dưới vua là Lạc Hầu, thay mặt vua giải quyết công việc trong nước, nắm quân đội trong tay. Dưới nữa là Lạc tướng, cai quản địa phương, là chức vụ thế tập, truyền đạt mệnh lệnh từ trên xuống.

Trên mặt văn hóa, các tác giả cho rằng sinh hoạt trên lĩnh vực này rất phong phú, đa dạng. Thiên niên kỷ I trước công nguyên rất được họ quan tâm, bởi vì đó là thời kì bước phát triển đáng chú ý của cả thời đại Hùng Vương. Cho nên ở đây, các tác giả đã phần nào khắc họa được cho chúng ta thấy khung cảnh sinh hoạt vật chất, tinh thần và xã hội khi ấy. Từ đó mở đầu cho một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và định hướng phát triển.

Cuối cùng, đó là thời đại Hùng vương kết thúc bởi sự sụp đổ của nước Âu Lạc

Ngay từ phần dẫn luận ở đầu sách, các tác giả đã trình bày quá trình nghiên cứu của các học giả từ xưa tới nay nghiên cứu có tồn tại thời đại Hùng vương hay không? Và khi bàn riêng về nhân vật Thục Phán, tục gọi An Dương vương cũng như vậy. Ngay trong giới sử học đương thời cũng đã có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này. Thời đó, giới sử học cũng đưa ra ý kiến nhất trí như sau:

1. Cũng như Hùng vương, Thục Phán là một nhân vật có thật trong lịch sử Việt Nam. Đó là người đã thay thế triều đại Hùng vương và sáng lập ra nhà nước Âu Lạc.

2. Nhà nước Âu Lạc kế tục nhà nước Văn Lang gồm có hai thành phần nhân chủng chủ yếu là Âu Lạc và Lạc Việt.

3. Nhà nước Âu Lạc giống như nhà nước Văn Lang về tính chất xã hội và chỉ khác nhà nước Văn Lang về cương vực ở phía bắc mà thôi.

Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc cũng còn nhiều ý kiến trái chiều, chưa kẻ đến thời gian, chỉ kể mặt hoàn cảnh. Có ý kiến cho rằng nước Âu Lạc ra đời sau khi đánh chiếm Văn Lang, có ý kiến nói rằng đó là kết quả của cuộc đấu tranh quân Tần xâm lược, thể hiện sự đoàn kết giữa Âu Việt và Lạc Việt. Những điều đó cũng đạt được các tác giả lưu tâm đến. Và các tác giả đi đến kết luận nước Âu Lạc ra đời sau sự đoàn kết của cư dân Lạc Việt và Âu Việt trước cuộc xâm lược của nhà Tần (Trung Hoa). Và đó là vào năm 208 TCN.

Xã hội Âu Lạc về căn bản không khác gì xã hội nước Văn Lang trước kia. Nên các tác giả đã xếp nước Âu Lạc nằm trong phạm trù xã hội thời Hùng Vương. Đó là xã hội cuối cùng của thời đại Hùng Vương giữ được nền độc lập. Sự thất bại của An Dương Vương trước quân Triệu Đà – nước Nam Việt vào năm 180 TCN (hoặc 179 TCN) đã đánh dấu sự kết thúc của thời đại Hùng vương.

Thời đại Hùng Vương từ khi bắt đầu cho tới thời điểm nước Âu Lạc mất đã kéo dài hơn hai mươi thế kỷ. Thời đại này là thời đại dựng nước và mở nước của dân tộc Việt Nam, nó có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc. Tuy về sau không cỏn nữa, thời đại này vẫn để lại dấu ấn lên phong tục, tập quán, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng của xã hội Việt Nam thuộc các thời đại lịch sử về sau. Cho đến năm 40, thể chế xã hội của thời đại Hùng vương vẫn để lại dấu vết rất đậm đà trong thời đại Bắc thuộc. Cho nên, cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng năm 40 được xem là cuộc khởi nghĩa của con cháu Hùng Vương nổi lên đấu tranh nhằm giành lại đất nước của Hùng Vương.

Trên đây là toàn bộ những điều tôi bước về thời đại Hùng Vương từ cuốn sách cùng tên. Mặc dù hiện nay đã xuất hiện những điểm mới trong vấn đề nghiên cứu thời đại Hùng Vương, nhưng giá trị của quyển sách này đối với tôi là điểm khởi đầu của mọi kết quả nghiên cứu. Với mong muốn chia sẻ kiến thức đến các bạn đọc, mong rằng bài viết này hữu ích đối với các bạn. Thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử, giá trị của nó vẫn trường tồn theo thời gian.

307 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá / 5. Số đánh giá