Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn chí phèo của nam cao

Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn hiện thực lớn nhất của nền văn học Việt Nam. Sáng tác của ông đã vượt lên trên sự hữu hạn của thời gian và khảng cách không gian.Tiếng chửi của một thằng say đã mở đầu cho thiên truyện ngắn đặc sắc “Chí Phèo” của Nam Cao. Tác giả đã vẽ ra một cuộc đời đầy bi kịch của nhân vật Chí Phèo – hận cả xã hội, hận cả loài người. Anh trượt dài qua bao năm thắng, ngụp lặn trong những cơn say, mất đi cả lương chi, nương năng. Cuộc sống của Chí Phèo thật chẳng giống đang sống. Anh như chết dở sống giở trong cái xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đầy ngột ngạt của những đêm trường trước cách mạng. “Không gian và thời gian là hai bề của sự vật, là kích thước của sự sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian và thời gian lên được để chứa đựng sự vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi, nảy nở” (Huy Cận). Một phần lớn trong sự thành công của tác phẩm Chí Phèo chính là nhờ vào không gian và thời gian nghệ thuật. Qua đây, tư tưởng nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nhà văn được bộc lộ một cách rõ nét nhất.

Chi_pheo_1
                                               CHÍ PHÈO – NAM CAO

Thông tin cơ bản về sách 

  • Thể loại: truyện ngắn
  • Tác giả: Nam Cao
  • Năm xuất bản: Tùy ấn bản
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học,
  • Giá bán: Tùy ấn bản

Sách dành cho nhiều đối tượng

Nam Cao là nhà văn hiện thực phê phán. Các sáng tác của ông phản ánh hiện thực xã hội. Ngôn ngữ gần gũi đời thường và dễ hiểu. Vì vậy cuốn sách này phù hợp với nhiều đối tượng bạn đọc cho dù bạn là nam hay nữ, già hay trẻ.

Chí Phèo
                                                          Chí Phèo

Vài nét về tác giả Nam Cao

Nam Cao (1915- 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao từng vật lộn kiếm sống và xuất hiện khá sớm trên văn đàn. Các sáng tác của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu nhiều ảnh hưởng của trào lưu “văn học lãng mạn” đương thời.
Khi ở miền Bắc, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, đường Thụy Khuê, Hà Nội. Nhật vào Đông Dương, trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học. Ông đưa in truyện ngắn “Cái chết của con Mực” trên báo Hà Nội tân văn và in thơ cùng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt.
Năm 1941, tập truyện đầu tay “Đôi lứa xứng đôi” (tên trong bản thảo là “Cái lò gạch cũ”) của Nam Cao do Nhà xuất bản Đời mới Hà Nội ấn hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó. Sau này, khi in lại, Nam Cao đã đổi tên là “Chí Phèo”.
Rời Hà Nội Nam Cao về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quê Đại Hoàng. Bút lực và tài năng của Nam Cao bước vào độ chín. Nhà văn hiện thực xuất sắc dũng cảm đối mặt với cái ác, cái bất công đè lên những người dân thấp cổ bé họng, bị lũ bất lương truyền kiếp đè đầu cưỡi cổ.Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm. Năm 1942, in các truyện ngắn “Cái mặt không chơi được”, “Nhỏ nhen”, “Con mèo”, “Những truyện không muốn viết”, “Nhìn người ta sung sướng”, “Đòn chồng”, “Giăng sáng”, “Đôi móng giò”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Đón khách”. Các truyện thiếu nhi đăng tải trên sách Hoa Mai: “Những trẻ khốn nạn”, “Người thợ rèn”, “Nụ cười”, “Con mèo mắt ngọc”, “Ba người bạn”. Tháng 4-1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc. Ông in tập truyện ngắn “Nửa đêm”. Viết các truyện ngắn “Mua nhà”, “Quái dị”, “Từ ngày mẹ chết “, “Lão Hạc”, “Rửa hờn”, “Rình trộm”, “Nước mắt”, “Đời thừa”, “Đầu đường xó chợ”, “Phiêu lưu”, “Lang Rận”, “Một đám cưới”, “Bẩy bông lúa lép”. Ông in truyện dài nhiều kỳ “Truyện người hàng xóm” trên Trung Bắc chủ nhật, viết xong tiểu thuyết “Chết mòn (sau đổi là “Sống mòn”).
Năm 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi nhà văn được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở địa phương, in truyện ngắn “Mò sâm-banh” trên tạp chí Tiên Phong.
Ngày 30-11-1951, trên đường công tác, ông bị quân Pháp giết.

Nam Cao
                                              Nam Cao

Vài nét về tác phẩm “Chí Phèo”

Chí Phèo  ra mắt bạn đọc từ tháng 2 năm 1941. Đây là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo của Nam Cao. Đồng thời là một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Nam Cao bắt đầu sáng tác từ năm 1936, nhưng đến tác phẩm Chí Phèo, nhà văn mới khẳng định được tài năng của mình. Chí Phèo được xem là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn.

Trước khi có tên là “Chí Phèo” thì tác phẩm này còn có một số tên khác như sau:

Cái lò gạch cũ: Đây chính là tên gọi đầu tiên của câu truyện, để nói lên sự ra đời của Chí Phèo mà không được hưởng bất cứ quyền sống nào của con người. “Cái lò gạch cũ” là hình ảnh không thể thiếu được của Chí Phèo, với tên gọi này giá trị hiện thực của tác phẩm rất sâu sắc khi đề cập tới sự nối tiếp của kiếp đọa đày, hết kiếp này qua kiếp khác của giai cấp thống trị đối với người nông dân, vì vẫn còn đó Chí Phèo con khi Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng ở cuối tác phẩm.

Đôi lứa xứng đôi: khi in thành sách lần đầu năm 1941, nhà xuất bản Đời mới (Hà Nội) tự ý đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi”. Tên gọi này được đặt ra sẽ hướng người đọc tới mối tình giữa Thị Nở và Chí Phèo, nhằm giúp người đọc có thể thấy ra sự tàn ác của làng Vũ Đại và Bá Kiến đối với Chí Phèo và sự gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở. Tên này phù hợp với sở thích người đọc thời đó, nhưng nếu như vậy thì tất cả những giá trị khác của tác phẩm sẽ bị lu mờ bởi cuộc tình éo le giữa Thị và Chí.

Chí Phèo: Sau 2 tên gọi trên, nhà văn Nam Cao đã quyết định đổi tên truyện thành “Chí Phèo”, tên gọi nhân vật chính của câu chuyện. Với nhan đề này thì mọi giá trị của tác phẩm đều hiện hữu một cách sâu sắc bởi tựa đề đã đề cập tới một số phận cụ thể, số phận ấy mang cả giá trị hiện thực lẫn giá trị nhân đạo.

Cp Nc
                      Chí Phèo và Thị Nở trong bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm

Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn “Chí Phèo’

Không gian trong các sáng tác của Nam Cao hầu hết là vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã, những con đường làng. Trong những mối liên hệ của thời gian và không gian, làng quê, ngôi nhà, con đường hóa ra là cơ bản và quan trọng nhất. Tất cả những mối quan hệ còn lại, hoặc là bị chúng cuốn hút, hoặc là trở thành thứ yếu trong thế giới nghệ thuật của nhà văn.

  • Không gian làng Vũ Đại

Không gian rộng lớn, bao trùm toàn bộ tác phẩm. Làng Vũ Đại – một cái làng đầu tỉnh cuối huyện, vừa hẻo lánh vừa xơ xác, một mảnh đất nghèo túng. Nếu như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, cũng là không gian làng quê nhưng làng Đông xá lại rất nhộn nhịp, huyên náo với tiếng trống thức sưu. Làng Vũ Đại trong “Chí Phèo” lại mang cái vẻ vắng lặng, hoang vu của một vùng quê xơ xác, chất chứa nhiều bất hạnh và đắng cay. Trong không gian u ám, tù túng ấy, đã có biết bao nhiêu số phận giống như Chí Phèo bị đày đọa.

Việc Nam Cao xây dựng không gian này thể hiện một cách nhìn mới mẻ và sâu sắc của nhà văn trước thực trạng làng xã nông thôn Việt Nam trước năm 1945. Chí Phèo lớn lên ở làng Vũ Đại, cũng từ đó mà vào tù, đến khi ra tù cũng trở về làng Vũ Đại và làm con quỷ dữ. Đây là một sự sắp đặt có dụng ý nghệ thuật, mang tầm ý nghĩa lớn của tác giả.

Chí Phèo vẫn quay trở về làng Vũ Đại dù biết rằng đó là nơi đã tước đi quyền con người của mình, cướp đi cuộc sống yên bình vốn có. Ở đó có những mưu toan, hơn thua và cả sự độc ác. Chí trở về như để tìm lại những gì đã mất hay đúng hơn là để đòi lại những gì mà mình đã bị cướp đi.

Từ khi Chí Phèo về làng, không gian làng Vũ Đại trở lên huyên náo hơn bằng tiếng chửi, những buổi rạch mặt ăn vạ của Chí. Nhưng cũng chính vì vậy mà không gian làng Vũ Đại lại trở lên đen tối hơn bởi những mưu toan, đói nghèo, sự hắt hủi và khinh bỉ. Trong cái không gian ấy, đôi lần Chí cũng cố gắng vùng lên đòi làm người lương thiện, nhưng lần nào Chí Phèo cũng bị thất bại. “Ai cho tôi lương thiện” người làng đã loại hắn ra khỏi cộng đồng “ngay cả cái thẻ có biên tên tuổi hắn cũng không có, trong sổ người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu tán, lâu năm không về làng”.

Nhưng cũng trong không gian ấy, bằng chính cái nhìn nhân đạo sâu sắc, nhà văn cũng đã nhìn ra tấm lòng vàng. Tuy sinh ra không cha không mẹ, vứt trần truồng bên cái lò gạch cũ bỏ không, nhưng Chí Phèo vẫn lớn lên được nhờ anh thả ống lươn, người đàn bà góa mù, bác phó cối, dù rằng họ đối xử với Chí không phải lúc nào cũng tốt, cũng nhân hậu. Hơn thế nữa, ngay cả khi tất cả mọi người quay lưng với Chí thì vẫn có tình yêu của Thị Nở như một sự an ủi và khơi dậy niềm đam mê và khát khao sống lương thiện của Chí dù nó không thành.

  • Không gian con đường

Dù không trực tiếp miêu tả nhưng con đường lại được gợi ra như một không gian thân thuộc và chứng kiến biết bao mảnh đời từng đặt chân qua nó.

Không gian con đường chính là không gian ánh sáng. Không gian này cũng xuất hiện nhiều trong những tác phẩm khác như trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam – con đường phố huyện lúc chiều tà ảm đạm và u tối. Không giống như chị em Liên mọi sinh hoạt đều thực hiện trong cái tù mù của bóng tối, mọi hoạt động, sự kiện cuộc đời Chí lại diễn ra ở ngoài ánh sáng. Ngay cả những xấu xa, bất công cũng được thực hiện ngay trước ánh sáng. Ấy vậy mà nó chẳng bị rắc rối bởi sự phản đối nào cả. còn riêng sự đấu tranh thì còn vô cùng yếu ớt.

Không gian con đường xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, tạo nên một kết cấu đóng cho câu chuyện Chí Phèo. Nếu như ở đầu tác phẩm, con đường đã mở ra cuộc đời bi kịch của Chí Phèo – cuộc đời triền miên trong những cơn say, tiếng chửi thì đến cuối tác phẩm con đường đã dẫn Chí vào một kết cục bi thảm: “trời nắng lắm, nên đường vắng. Hắn cứ đi, cứ chửi, cứ dọa giết “nó” và cứ đi… Đến ngõ cụt nhà cụ Bá. Hắn xông đi vào”. Con đường cũng đưa chân Chí đến nơi khơi nguồn những bất hạnh và kết thúc nó.

  • Không gian nhà ở

Không gian nhà ở là không gian trung tâm trong sáng tác của Nam Cao, đã giúp ông khai thác triệt để những điều diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Không gian nghệ thuật của ông được mở ra trước hết và chủ yếu ở cái không gian đời tư này. Nhân vât của Nam Cao dù ở đâu, làm gì, cuối cùng cũng trở về với ngôi nhà, với căn phòng riêng của mình.

Nếu ta xem làng Vũ Đại là xã hội phong kiến thu nhỏ thì nhà Bá Kiến là nơi tập trung của quyền lực, tiền bạc và luật pháp. Diễn biến tâm trạng, quá trình lưu manh hóa của Chí thay đổi dần sau mỗi lần đến nhà Bá Kiến.

“Năm sào vườn ở bãi sông” chính là không gian sống riêng tư, cá nhân của Chí Phèo. Ở không gian ấy, Chí Phèo có một túp lều chứ không còn ở “cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước đến nay không có nhà”. Tính chất riêng tư, căn phòng của không gian sống ấy càng rõ hơn khi “trước kia, cả xóm vẫn dùng cái ngõ ấy để ra sông tắm giăt hay kín nước. Nhưng từ khi hắn đến , người ta thôi dần, tìm một lối khác.

Không gian sống của Chí Phèo nằm cạnh bờ sông, nơi con nước trong lành , nơi duy trì nguồn sống của con người, nơi có ánh trăng vàng rực rỡ, ấm áp, có tiếng chim hót ríu rít, có tiếng nói cười vui vẻ của những người đi chợ về. Ở đấy, vào “những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối. Những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Không gian ấy là không gian đời sống, tự tình của vạn vật, huống chi nữa là con người.

Trong không gian yêu thương, tình người ấy, Chí Phèo và Thị Nở đã có thể sống hạnh phúc năm ngày trọn vẹn. Chí đã có thể có lúc tỉnh táo để mà lắng nghe âm thanh của đất trời của những cô những chị đi chợ về. Rồi chợt Chí khao khát có thể cưới vợ rồi có mảnh đất chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Thế nhưng niềm mơ ước chẳng thể trọn vẹn vì đến cuối cùng họ cũng không thể vượt qua được định kiến xã hội. Hơn thế, khi bước ra khỏi không gian ấy, Chí Phèo lại quay trở về là con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

  • Không gian cái lò gạch cũ

Hình ảnh “cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại” là không gian tâm tưởng hiện lên chỉ ở trong tiềm thức ở đầu và cuối tác phẩm. Ở đầu tác phẩm nó được gợi nhớ đến bởi hoàn cảnh xuất than của Chí. Đó là một không gian bất thường báo hiệu một cuộc đời không bằng phẳng của Chí. Ở phần kết thúc câu chuyện, không gian “cái lò gạch cũ” hiện lên trong suy nghĩ của Thị Nở khi nhìn xuống bụng và nghĩ tới việc sẽ có một thằng Chí Phèo con ra đời.

Không gian cái lò gạch cũ chứa đựng ý nghĩa về triết lí nhân sinh sâu sắc: chừng nào thực tại xã hội không thay đổi thì chừng đó tương lai sẽ tiếp tục những tấn bi kịch. Chừng nào cuộc đời còn những bất công, xấu xa, ti tiện thì sẽ còn có những Chí Phèo.

Tuy không gian này chỉ hiện lên mờ nhạt nhưng lại có ý nghĩa sâu xa. Không tự dưng mà trước “Chí Phèo” Nam Cao lại đặt tên truyện là “Cái lò gạch cũ”. Hình ảnh ấy chỉ xuất hiện hai lần nhưng lại ám ảnh cả tác phẩm, đem lại nỗi lo sợ, đau xót mơ hồ cho một thực tại phũ phàng của làng quê Việt Nam trong đêm trước Cách mạng.

  • Không gian đường đời

Cuộc đời Chí Phèo là con đường đầy những biến cố, như một con dốc đứng. Chí lớn lên trong sự đùm bọc của người dân làng Vũ Đại và trở thành một anh canh điền khỏe mạnh. Lúc ấy, Chí giống như đang leo lên dốc để đến với hạnh phúc với một niềm vui tươi phấn khởi. Chí có ước mơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa về một gia đình nhở hạnh phúc. Chí biết cảm thấy nhục nhã và giả ngơ khi bị người vợ ba của Bá Kiến – người đàn bà quyền lực bắt bóp chân lại đòi bóp cao lên thêm nữa. Nhưng lại vì chính sự ghen ghét và quyền lực của Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù và đồng nghĩa với việc đẩy anh xuống vực thẳm. Đến khi ra tù, Chí vẫn luôn bị khống chế dưới quyền lực ấy không ngóc đầu lên được và thành tay sai của Bá Kiến.

Chợt một sớm bước ra khỏi cơn say, Chí nhận ra mình đã đến bên kia dốc của cuộc đời ấy vậy mà nhìn lại tất cả chỉ có một màu xám xịt. Chí lại khao khát lương thiện, lại nhớ về mơ ước nhỏ nhoi khi xưa và muốn được dựa vào Thị Nở để quay trở lại với cuộc đời. Thế nhưng đến chỗ bám víu cuối cùng là Thị Nở cũng rời bỏ Chí chỉ vì bà cô khọm già không cho. Chí chết bên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện.

Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn “Chí Phèo”

  • Thời gian hiện thực hàng ngày

Mỗi ngày qua đi lại thêm một sự tàn phá của cuộc đời Chí ở cả nhân hình và nhân tính. Làm tay sai cho Bá Kiến, Chí cũng chẳng biết đã làm bao lâu, đã làm những gì. Khuôn mặt chằng chịt những sẹo chẳng giống khuôn mặt của hình nhân. Chí chẳng còn nhớ nổi mà cũng chẳng ai đoán ra y bao nhiêu tuổi nữa. Chí Phèo tối ngày say sỉn, rồi chửi ngày qua ngày dần mất đi ý niệm về thời gian.

Sau cái đêm cùng Thị Nở ở bụi chuối, ý niệm thời gian đã trở về với Chí, còn trước đó hắn đã hoàn toàn mất ý thức về thời gian, về bản thân, “chưa bao giờ hắn tỉnh… để nhớ rằng có hắn ở đời”. Chí nhận ra cái hiện tại thường ngày qua ánh nắng và mặt trời ấm áp, tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái đuổi cá. Quá khứ, tương lai dồn dập hiện về trong suy nghĩ hiện tại của hắn, nhưng quan trọng hơn hết, Chí nghĩ về cái hiện tại, về bát cháo hành của Thị Nở, về việc “Thị Nở sẽ mở đường cho hắn” trở về với lương thiện, về cái nguyện vọng “hay mình sang ở với tớ một nhà cho vui”, hay về cái ước mong đơn giản “giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”. Sống sâu sắc ở hiện tại, Chí đã cảm nhận hết ý nghĩa của cuộc sống luơng thiện.

  • Thời gian hồi tưởng

Thời gian hồi tưởng trong sáng tác của Nam Cao đến rất tự nhiên. Chẳng bao giờ ta thấy nhân vật cố nhớ lại hay nhà văn cố ý gợi ra. Nó đến từ từ và rất tự nhiên. Hơn thế nó có mối quan hệ chặt chẽ với thời gian nghệ thuật nói chung chứ không tách rời.

Thời gian hồi tưởng thường là thời gian đã mất, có thể nói đây là nhân vật vô hình xuyên suốt câu chuyện. Nhận thấy thời gian trôi đi một cách tàn nhẫn, Chí Phèo suy ngẫm về thời gian với sự xúc động nuối tiếc, với tình cảm cay đắng không gì bù đắp nổi “hình như đã có môt thời gian hắn đã ước ao có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng bỏ lại một con lợn nhỏ nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sao ruộng làm”. Đây là lần đầu tiên trong chuỗi ngày bi kịch, Chí tỉnh để nghĩ về qua khứ, để nhớ lại ước mơ của mình.

  • Thời gian tương lai

Thời gian tương lai xuất hiện hai lần. Lần thứ nhất là Chí ước ao có gia đình nhở hạnh phúc. Lần thứ hai là sau khi tỉnh cơn say, Chí lại nhớ về mơ ước khi xưa và tiếp tục khao khát một lần nữa. Thế nhưng tương lai của Chí thì thật quá mờ mịt. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.

Không chỉ dừng lại ở tương lai cuộc đời Chí và điều đáng quan tâm nữa đó là tương lai của làng Vũ Đại. Chí Phèo chết làng Vũ Đại mất đi một con quỷ dữ có lẽ sẽ yên bình hơn. Bá kiến bị Chí đâm chết, điều này làm cho những phe cánh kahsc trước đây phải chịu dưới chướng cụ bá hoành hành. Làng Vũ đại vẫn luôn tồn tại các thế lực và biết đâu đấy trong tương lai chẳng thiếu them vài anh Chí.

  • Thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai đan xen

Câu chuyện bắt đầu với tiếng chửi của Chí ở thực tại. Rồi hồi tưởng trở về quá khứ lai lịch của Chí. Được quấn trong cái váy đụp ở lò gạch cũ được anh đi đặt ống lươn đem về nuôi rồi lớn lên làm ruộng. Sau đó lại bị Bá Kiến dung quyền lực mà đẩy vào con đường tù tội. Trở về thực tại, Chí đã thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

Rồi sau một cơn say và ân ái cùng Thị Nở ở bụi chuối, Chí lại nhớ về ngày xưa từng ao ước có một gia đình nhở hạnh phúc, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chí nghe được tiếng những cô những chị đi chợ về , nghe tiếng chim hót, tiếng đuổi cá của thực tại và càng làm khao khát ước muốn khi xưa có một gia đình hạnh phúc cùng Thị Nở. Tương lai ấy thật đáng ao ước với Chí. Chí cũng lại nhận ra ở thực tại, chí ý thức được thời gian buổi sáng, ý thức được mình đã bước sang con dốc bên kia của cuộc đời. Lại nghĩ đến tuổi già, ốm đau, bệnh tật và cô đơn.

Đôi dòng cảm nhận

Nếu yêu thích các tác phẩm của Nam Cao thì không thể nào bỏ qua truyện ngắn Chí Phèo. Cuộc đời của một anh làm thuê hiền lành bị đảo lộn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Những khao khát hạnh phúc lứa đôi  đều bị vùi dập hết. Đó đều là do cường quyền ác bá ức hiếp mà thành. Qua đây, số phận  con người hiện lên thật bi ai và bất hạnh.

Nơi mua sách

Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên nên mua:

Hai yếu tố không gian, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm là thành tố quan trọng của thi pháp, không những góp phần giúp Nam Cao xây dựng thành công hình tượng Chí Phèo mà còn giúp ông chuyển tải thế giới hiện thực vào trong những sáng tác văn chương, đồng thời gửi gắm những thông điệp tư tưởng, tình cảm thương yêu nhà văn với cuộc đời, với con người.

1229 views