Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ Văn 10

 Đề cương ôn thi học kì 2 lớp 10 môn Văn này giúp hệ thống câu hỏi phần tiếng việt, phần văn bảnphần làm văn cũng như các có các gợi ý trả lời, tóm tắt kiến thức trọng tâm nhất, giúp các bạn ôn tập chuẩn bị cho kì thi cuối học kì II lớp 10 môn Ngữ văn được hiệu quả nhất. 

Phần Tiếng Việt 

1.Khi sử dụng Tiếng Việt, cần sử dụng như thế nào cho đúng theo các chuẩn mực của Tiếng Việt?

Về ngữ âm và chữ viết: yêu cầu phát âm theo âm chuẩn của tiếng Việt, viết chữ theo đúng các quy tắc hiện hành của chữ quốc ngữ.

Về từ ngữ: yêu cầu dùng từ ngữ theo đúng hình thức, cấu tạo, ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp của chúng trong tiếng Việt.

Về ngữ pháp: yêu cầu đặt câu theo đúng các quy tắc ngữ pháp, diễn đạt đúng các quan hệ ý nghĩa, sử dụng dấu câu thích hợp và có sự kiên kết câu để tạo nên mạch lạc cho văn bản.

Về phong cách ngôn ngữ: yêu cầu sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, với phong cách chức năng ngôn ngữ.

2.Khi sử dụng Tiếng Việt, làm sao để sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao?

Yêu cầu sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao được thực hiện bằng các phép tu từ, chuyển hóa linh hoạt, sáng tạo nhưng vẫn tuân theo các quy tắc và phương thức chung của tiếng Việt.

3. Thế nào là ngôn ngữ nghệ thuật? Hãy nêu những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật?

Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật.

Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

    • Tính hình tượng.
    • Tính truyền cảm.
    • Tính cá thể hóa.

4.Tiếng Việt nước ta trải qua mấy thời kỳ? Đó là những thời kỳ nào?

Tiếng Việt nước ta trải qua 5 thời kỳ, đó là:

  • Tiếng Việt trong thời kỳ dựng nước
  • Tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
  • Tiếng Việt dưới thời kỳ độc lập tự chủ.
  • Tiếng Việt trong thời kỳ Pháp thuộc.
  • Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

Phần Văn Bản 

1.Hãy nêu giá trị nghệ thuật và ý nghĩa của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”? (Trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn).

Trả lời :

 a) Nghệ thuật

  • Bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật.
  • Ngôn từ chọn lọc, nhiều biện pháp tu từ, …

  b) Ý nghĩa văn bản

Ghi lại nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ tỏng tình cảnh chia lìa; đề cao hạnh phúc lứa đôi và tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến.

2.Trình bày khái quát nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Du.

a)  Nội dung tư tưởng.

  • Tiếng khóc cho số phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho thân xác con người bị dày đọa.
  • Lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép: tố cáo thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, phanh phui sức mạnh làm tha hóa con người của đồng tiền. Bị ràng buộc bởi thế giới quan trung đại, Nguyễn Du tuy cũng lên án tạo hóa và số mệnh, nhưng bằng trực cảm nghệ sĩ, ông đã vạch ra đúng ai là kẻ chà đạp quyền sống của con người trong thực tế.
  • Bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí.

b) Nghệ thuật

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật;
  • Nghệ thuật kể chuyện;
  • Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.

3. Hãy nêu giá trị nghệ thuật và ý nghĩa của đoạn trích “Trao duyên”. (Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

a) Nghệ thuật

  • Miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật.
  • Ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động.

b) Ý nghĩa văn bản

  • Vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện qua nỗi đau đớn khi duyên tình tan vỡ và sự hi sinh đến quên mình vì hạnh phúc của người thân.

4.Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều được thể hiện như thế nào trong đoạn trích “Nỗi thương mình” (Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều

  • Tỉnh dậy khi đêm tàn canh, giật mình đối diện với chính mình.
  • “Giật mình”: vừa là sự tự ý thức về nhân phẩm, vừa là nỗi thương thân xót phận.
  • Sự đối lập giữa thực tại và quá khứ thể hiện sự tiếc thương thân mình bị vùi dập và nỗi đau về sự thay thân đổi phận.

5.Lý tưởng anh hùng của Từ Hải được thể hiện như thế nào qua đoạn trích “Chí khí anh hùng” (Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

Lí tưởng anh hùng của Từ Hải

  • Không quyến luyện, bịn rịn, không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả.
  • Trách Kiều là người tri kỉ mà không hiểu mình, khuyên Kiều vượt lên trên tình cảm thông thường để sánh với anh hùng.
  • Hứa hẹn với Kiều về một tương lai thành công.
  • Khẳng định quyết tâm, tự tin vào thành công.

6.Những yếu tố kết tinh nên một thiên tài Nguyễn Du?

a) Yếu tố khách quan 

  • Thời kì lịch sử đầy biến động
  • Quê hương 
  • Gia đình đại quý tộc, truyền thống khoa bảng và yêu văn chương, nghệ thuật 

b) Yếu tố chủ quan 

  • Cuộc đời nhiều bi kịch ( Chứng kiến thời kì binh lửa tang thươn ; Cuộc sống đói khổ bần hàn, lưu lạc ; làm quan nhưng chán ghét , u uất ) 
  • Vốn sống phong phú ( Tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều vùng miền ; Chứng kiến và hưởng thụ cuộc sống quý tộc; Trải qua cuộc sống hơn 10 năm gió bụi ; Từng đi sứ sang Trung Quốc)
  • Trái tim nhạy cảm ( Tình yêu thương dành cho những kiếp người bé nhỏ bất hạnh, cho những người tài hoa , bạc mệnh, đặc biệt là người phụ nữ )

Phần Làm Văn 

Đoạn trích ” Trao duyên ” ( Trích ” Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

Câu 1: Phân tích đoạn trích ” Trao duyên ” ( Trích ” Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

a) Dàn ý 

I/ Mở bài

  • Dẫn dắt giới thiệu tác giả tác phẩm

Có lẽ trong “tiếng kêu đứt ruột” xuyên suốt “Truyện Kiều” thì trích đoạn “Trao duyên”là tiếng kêu đứt ruột đầu tiên mở màn một chuỗi dài những đau thương chất chồng lên cuộc đời truân chuyên của người con gái tài sắc. Với tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du, trích đoạn đã thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều.

II/ Thân bài

1. Lời thỉnh cầu trao duyên của Thúy Kiều với Thúy Vân

  • “Cậy” vừa có nghĩa là nhờ, vừa bộc lộ tâm trạng quằn quại khó nói, lại vừa gửi gắm một hi vọng nhận lời của Thúy Vân.
  • “Chịu” là đẩy Vân vào tình thế mặc nhiên phải chấp nhận dẫu chưa biết đó là chuyện gì. “Chịu” là ép buộc để cho người thương mình sẽ nhận lời.
  • “Ngồi lên cho chị lạy” là tư thế của người chịu ơn với ân nhân của cuộc đời mình, tức là chỉ mình em có thể nhận lời gửi gắm của con người sắp đi xa.
  • Với giọng điệu trang trọng, Kiều đã hạ mình cầu khẩn em một cách xót xa, ở đó có tư thế của một người chị cùng với tư thế của người cầu xin.
  • Kiều dùng lý lẽ để thuyết phục Thúy Vân, trong đó có câu chuyện về mối tình đầu trong sáng từ khi chàng Kim, có cả sự day dứt vì đứt gánh tương tư, đứt mối tình đầu dang dở.
  • Đó là lý lẽ của con người hiếu nghĩa đủ đường, của một trái tim giàu lòng vị tha, nghĩ cho người khác hơn là nghĩ cho mình. Vì mặc cảm day dứt vì chàng Kim, chị trao lại duyên cho em, em là em gái của chị, hãy vì xót thương chị và nối tiếp mối duyên này.
  • Trao duyên cho em bởi em còn trẻ, còn một tương lai tươi sáng ở phía trước, em có thể xây dựng lại hạnh phúc cho mình bắt đầu từ hôm nay chứ không phải là một cuộc đời tăm tối như chị.
  • Những câu thơ vừa giàu lý lẽ vừa thắm thiết tình chị em. Thúy Kiều còn khéo léo đưa vào đó cả cái chết của mình để tăng thêm sức nặng cho lời thuyết phục.
  • Với nỗi đau đớn trong cuộc đời, Kiều đã mượn nỗi quan hệ thiêng liêng là tình máu mủ để giải quyết một mối quan hệ thiêng liêng nữa là tình yêu đôi lứa. Lời thỉnh cầu đầy cảm động đã dọn đường từ trái tim Kiều đến trái tim Vân.

2.Trao kỉ vật và dặn dò em

  • Kỉ vật Kiều trao cho em là chiếc vành gắn liền với buổi đầu gặp gỡ. Chiếc vành, bức tờ mây ghi lời thề chung thủy của Kim Kiều trong buổi thề nguyền gợi lên mối tình đầu trong sáng.
  • Hai chữ “của chung” gượng gạo mâu thuẫn vì kỉ vật tình yêu chỉ thiêng liêng khi là riêng hai người. Thế nhưng của chung, tức là không phải là của em và Kim mà có cả chị trong đó. Vậy là Kiều trao duyên cho em nhưng vẫn muốn níu giữ, vẫn muốn có chút hiện diện của mình trong đó.
  • Kiều đang rơi vào sự giằng xé dữ dội trong tâm trạng, giữa trao đi và không muốn trao đi, giữa mất và còn.
  • Ngay sau khi trao kỉ vật, trong những lời dặn dò, cảm giác mất mát còn hiện rõ lên trong tâm trí.
  • “Ngày xưa” là thời gian tâm lý. Buổi thề nguyền vừa qua có mấy ngày thế mà trong khoảnh khắc chốc lát, tất cả đã trở thành ngày xưa.
  • Nguyện cầu duy nhất của nàng là nhận được sự cảm thông, chia sẻ của người ở lại. Kiều tưởng tượng ra cái chết của mình, trong tư thế của một mảnh hồn oan, Kiều vẫn tìm về dương thế, dù cho mảnh hồn đó có trôi lạc nơi đâu thì vẫn mang nặng một lời thề trong tim, vẫn cứ tìm về.

3. Lời tạ từ gắn với chàng Kim

  • Hai chữ “bây giờ” đã đưa Kiều đang chiêm nghiệm về tương lai trở về thực tại phũ phàng. Bây giờ là trâm gẫy, là tơ duyên ngắn ngủi… đã dứt Kiều ra khỏi cuộc nói chuyện với Thúy Vân để hướng về chàng Kim.
  • Kim Trọng là cội rễ của mọi nguồn đau, là người mà Kiều nghĩ rằng không trả nghĩa thì không được. Khi trả nghĩa xong rồi thì Kiều mới nhận ra khoảng trống đáng sợ mà mình đã đánh mất đi hạnh phúc đang có. Nỗi đau quá lớn, điều này Thúy Vân không thể hiểu mà chỉ có Kim Trọng mới có thể cảm thông.
  • “Trâm gẫy gương tan” là hiện thực về tình yêu tan vỡ không thể hàn gắn được. “ Trăm nghìn là tất cả những tình cảm lớn lao dành cho Kim. Lạy chàng Kim, cái lạy hối nỗi ăn năn như một sự tạ từ
  • Kiều cũng ý thức được về nỗi đau của riêng mình. “Bạc như vôi” nói về sự bạc bẽo của người đời, cuộc đời, có ý nghĩa khái quát cho phận người trong xã hội cũ.
  • “Đã đành” là sự thừa nhận mình là thân cánh bướm, là phụ nữ thì phải chấp nhận dòng đời xô đẩy, nước chảy thì hoa trôi.
  • “Thôi thôi” , sự bất lực đành buông bỏ, đó lầ sự chấp chới tuyệt vọng, là sự tiếc nuối khi phải rời bỏ mối tình trong sáng. Đỉnh điểm của nỗi đau đớn là Kiều tự nhận nàng phụ chàng Kim. Nỗi đau ấy chứng tỏ tình cảm nàng dành cho Kim Trọng.

4.Đánh gia chung về đoạn trích 

  • Khái quát nghệ thuật đặc sắc : Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật ; Từ ngữ đặc sắc 
  • Khái quát nội dung tác phẩm : Bi kịch tình yêu ; Thân phận bất hành và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều 

III/ Kết bài

  • Kết luận chung

Qua đoạn trích Nguyễn Du đã thể hiện trái tim đôn hậu của mình trước tình yêu nam nữ tan vỡ qua cách nói có lớp lang, thấy được tâm trạng thực, thấy được những biểu hiện đau đớn nhất của con người. Đọc “Truyện Kiều” nói chung và đoạn trích “Trao duyên” nói riêng, ta càng thêm hiểu và thương cho Kiều cũng như bao số phận hồng nhan bạc mệnh khác trong xã hội , vừa khâm phục ngòi bút tài hao của đại thi hào Nguyễn Du.

b) Viết mẫu 

   Mở bài:” Truyện Kiều” là một sáng tác văn chương kiệt suất của văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ thể hiện tầm vóc lớn lao củ chủ nghĩa nhân văn cao đẹp mà còn khẳng định tài năng nghệ thuật bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du trên nhiều phương diện . Nhắc đến ” Truyện Kiều”, chúng ta không thể không kể đến đoạn trích ” Trao duyên ” với nội dung là sự cậy nhờ của Kiều đối với em là Thúy Vân . Thúy Kiều cậy nhờ em thay mình trả mối ân tình cho Kim Trọng, hoàn thành lời hẹn ước gắn bó trăm năm để rồi nàng phải bán mình cứu cha và em giữ chọn chữ hiếu.

Kết bài :

Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lí, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “Trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân: khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.

   

Câu 2: Cảm nhận về tâm trạng của Thúy Kiều trong 12 câu thơ đầu của đoạn trích “Trao Duyên “

a)Dàn ý 

a) Mở bài

– Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều:

+ Nguyễn Du (1765 – 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt xuất, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc.

Truyện Kiều là một kiệt tác kinh điển của nền văn học Việt Nam, được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát gồm 3254 câu.

– Giới thiệu đoạn trích Trao duyên:

+ Đoạn trích từ câu 723 đến 756 trong tác phẩm “Truyện Kiều” phần gia biến và lưu lạc, thuật lại diễn biến tâm trạng của Kiều trong đêm cuối cùng trao duyên cho Thúy Vân nhờ em trả nghĩa với chàng Kim hộ mình.

b) Thân bài: Phân tích, cảm nhận 12 câu thơ đầu bài Trao duyên

* Luận điểm 1: Thúy Kiều nhờ cậy Vân qua lời nói 

 + “Cậy em”: nhờ vả, gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ của em.

   + “Chịu lời”: Đồng nghĩa với “nhận lời” nhưng “nhận lời” nó còn bao hàm sắc thái tự nguyện, có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn “chịu lời” thì bắt buộc phải chấp nhận, không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ cậy.

-> Ngôn ngữ vừa nhờ vả, vừa nài nỉ, vừa là sự ép buộc.

* Luận điểm 2: Thúy Kiều nhờ cậy Vân qua hành động 

– Hành động “Lạy, thưa” : trang nghiêm, trịnh trọng, hạ mình của người bề dưới với người bề trên -> cách nói tạo sự ràng buộc tế nhị

– Kiều là chị lại lạy, thưa em mình

-> Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này bởi hành động của Kiều là lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vân là hoàn toàn hợp lí.

=> Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh tình thế éo le của Thúy Kiều.

* Luận điểm 3: Thúy Kiều nhờ cậy Vân bằng những tâm sự thủ thỉ 

– Tình cảnh đặc biệt của Kiều:

“Giữa đường đứt gánh tương tư

Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”

+ Thành ngữ “đứt gánh tương tư” : tình duyên dang dở của Thúy Kiều -> Thúy Kiều ở vào tình cảnh không thể khác, đó là lý do để nhờ em.

+ Đứng giữa bên hiếu và bên tình, nàng lựa chọn việc trao duyên.

+ Chữ “mặc”: phó mặc, ủy thác, ủy nhiệm -> Kiều giao toàn bộ trọng trách cho Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

-> Tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa

=> Lời thuyết phục khôn khéo của Kiều dấy lên tình thương và trách nhiệm của người em đối với chị của Thúy Vân.

– Nhắc lại mối tình đẹp với Kim Trọng:

+ “Quạt ước, chén thề”: những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim và Kiều với những lời thề nguyền, đính ước gắn bó, thủy chung.

+ “Sóng gió bất kì” : Tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, phải chọn giữa tình và hiếu. Kiều đã chọn hi sinh chữ tình.

-> Mối tình Kim – Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh, dễ vỡ

=> Vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều, vừa khiến Vân xúc động mà nhận lời.

– Kiều nhắc đến tuổi trẻ, tình máu mủ và cái chết

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

+ “ngày xuân” : tuổi trẻ -> Thúy Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.

+ “Tình máu mủ” : tình cảm ruột thịt của những người cùng huyết thống.

-> Kiều khéo léo thuyết phục Vân bằng tình cảm ruột thịt để em không thể chối từ.

+ “Thịt nát xương mòn”, “Ngậm cười chín suối” -> cái chết đầy mãn nguyện của Kiều.

=> Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời.

+ “Chị dù … thơm lây” -> Đối với Kiều việc Thúy Vân chấp nhận lời nhờ cậy giống như một sự ban ơn.

=> Lí lẽ của Kiều vừa thấu tình vừa đạt lí khiến Vân không thể không nhận lời. Qua đó thấy Kiều là một người con gái thông minh, sắc sảo và đầy cảm xúc.

* Đánh giá : Đặc sắc nghệ thuật:

– Sử dụng từ ngữ tinh tế, tài tình

– Sử dụng thành ngữ dân gian, hình ảnh ẩn dụ

– Thủ pháp nghệ thuật liệt kê, ẩn dụ

– Giọng thơ nhẹ nhàng, da diết, giàu cảm xúc.

c) Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật 12 câu thơ đầu bài Trao duyên.

– Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ.

b) Sơ đồ tư duy :

Sơ đồ tư duy cảm nhận 12 câu đầu
Sơ đồ tư duy cảm nhận 12 câu đầu

.

c)Viết mẫu :

Mở bài : Đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Truyện Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích “Trao duyên” đã nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy Kiều. Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu. Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất nghẹn ngào.

Kết bài : Hay như Mộng Liên Đường cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu rỏ lên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy”, quả thật không ngoa chút nào! Với thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo kết hợp với nhiều biện pháp tu từ, sử dụng sáng tạo thành ngữ dân gian và kết hợp tài tình ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân, Nguyễn Du đã khắc họa rõ nét tâm trạng dằn vặt, đau đớn khi phải hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu của Kiều, khiến hình tượng của nàng trở nên đẹp đẽ hơn trong lòng người đọc.”Trao duyên” mang đến độc giả cái nhìn chân thực về thời đại của tác giả, một thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức, bị chính đồng tiền dồn ép tới đường cùng, không còn lối thoát. Chính giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc ấy mà đoạn trích, cũng như “Truyện Kiều” đã để lại trong lòng nhiều thế hệ độc giả ấn tượng sâu sắc

Đoạn trích “Chí khí anh hùng” ( Trích ” Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

a)Dàn ý 

1. Mở bài:

Tác giả: Đại thi hào Nguyễn Du, là danh nhân văn hóa Việt Nam.

Tác phẩm: Trích truyện Kiều nói lên tính cách và chí khí anh hùng của Từ Hải.

2 .Thân bài:

*4 câu đầu: Niềm khao khát, lý tưởng của người anh hùng

*Hoàn cảnh

– Thời gian :” nửa năm” – Kiều và Từ Hải chung sống hạnh phúc

-Tình cảm :”Hương nửa đương nồng” : lứa đôi nồng nàn, đắm say 

-> Hạnh phúc gia đình vẹn tròn viên mãn 

* Vẻ đẹp nhân vật Từ Hải :

-“Trượng phu”- từ Hán Việt -> Sắc thái trang trọng, tôn xưng

-” thoắt” : thể hiện sự biến đổi nhanh chóng, mạnh mẽ, dứt khoát

-> Đúng với tình cách người anh hùng 

-” Động lòng ” : Thôi thúc, giục giã -> Bừng lên cái chí 4 phương

– Không gian : bốn phương, trời bể mênh mang  -> Rộng lớn, kì vĩ 

– Điểm nhìn :” Trông vời “- nhìn xa : Chất chứa khao khát, hoài bão 

– Hình ảnh ” thanh gươm yên ngựa” : Phong thái tự tin, ngạo nghễ, phong trần

– Tư thế : Lên đường thẳng rong : quả quyết, đầy khí phách 

=> Niềm khao khát lên đường thục hiện chí lớn . Tư thế anh hùng – mang hùng tâm tráng chí 

*Vẻ đẹp chí khí anh hùng của Từ Hải

12 câu tiếp 

*Ngôn ngữ đối thoại Thúy Kiều- Từ Hải 

* Hoài bão, khát vọng ( thể hiện qua mong ước)

– Hình ảnh , âm thanh : mười vạn tinh binh, bóng tinh, tiếng chiêng

->Kì vĩ , hùng tráng, vang dội 

* Bút pháp lãng mạn, phóng đại: Khát khao xây dựng sự nghiệp uy danh, lẫy lừng, lập nên 1 või biên thủy , 1 vùng trời tự do. 

– Chân dung anh hùng: kì tài, xuất chúng

=> Sức mạnh nội lực, thôi thúc. Hoài bão và khát vọng lớn lao

* Mong muốn, hẹn ước 

  • Mong muốn : Đón Kiều khi đã hoàn thành nghiệp lớn -> Trân trọng Thúy Kiều 
  • Trần tình : Nỗi khổ tâm của người anh hùng khi chưa hoàn thành nghiệp lớn và chưa tạp đừng hạnh phúc xứng đáng cho người tri âm, tri kỉ 
  • Hẹn ước: tự tin , đinh ninh -> chủ động và niềm tin vào chí hướng, tài năng của Từ Hải 

-> Khơi dậy trong Thúy Kiều những khát khao kì diệu đẹp đẽ. Sự Trân trọng đợi chờ đầy hy vọng và lạc quan

=> Lý tưởng anh hùng gắn với tư tưởng nhân văn cao đẹp 

* Khát vọng lên đường của người anh hùng

*Hành động , khát vọng lên đường:

– Hành động : mạnh mẽ, quyết đoan, không do dự, không vướng bận, không lưu luyến, bịn rịn

-> Ý vị lạc quan, bay bổng 

– Điển tích : Kì vĩ hóa vẻ đẹp người anh hùng 

-> Tư thế : lồng lộng trước chiều kích không gian vô tân của tự nhiên, của đất trời sông núi 

-> Sắc thái lãng mạn, lạc quan, bay bổng

=> Vẻ đẹp con người phi phàm trong không gian : Khát vọng lớn lao mang tâm vóc vũ trụ

* Nghệ thuật 

  • Cảm hứng  sáng tạo : Lãng mạn 
  • Bút pháp nghệ thuật : Ước lệ, lý tưởng hóa
  • Giọng điệu : Anh hùng ca 
  • Ngôn ngữ : Tôn xưng , ngưỡng mộ, ngợi ca

3. Kết bài:

Đoạn trích Chí khí anh hùng là đoạn trích hay và ý nghĩa. Ca ngợi chí làm trai, chí khí của bậc đại trượng phu, lí tưởng về người anh hùng mang lại ánh sáng tươi đẹp cho đời và tình cảm sâu sắc của Từ Hải và Kiều, những ước vọng đẹp cho tương lai.

b)Viết mẫu 

Mở bài : Nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, ta không thể nào không nhắc đến “Truyện Kiều” – một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc, đề cao giá trị con người và lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến thối nát. Đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã dành những lời thơ của mình để nói về Từ Hải – người anh hùng lí tưởng có những phẩm chất cao đẹp, phi thường.

Kết bài : Từ Hải là hình ảnh thể hiện mạnh mẽ cái ước mơ công lí vẫn âm ỉ trong cảnh đời tù túng của xã hội cũ. Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Chí khí anh hùng
Chí khí anh hùng

Câu 2: Vẻ đẹp chí khí của người anh hùng Từ Hải trong “Chí khí anh hùng”

a) Dàn ý 

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du

– Giới thiệu chung về đoạn trích ” Chí khí anh hùng” 

– Khái quát về người anh hùng Từ Hải 

2. Thân bài 

* Luận điểm 1: Từ Hải và hoàn cảnh bộc lộ lên Chí khí anh hùng

-Hoàn cảnh

  •  Thời gian :” nửa năm” – Kiều và Từ Hải chung sống hạnh phúc
  • Tình cảm :”Hương nửa đương nồng” : lứa đôi nồng nàn, đắm say 

– Hai không gian đối lập:

   + “Hương lửa đương nồng”: Mái ấm gia đình với tình yêu, hạnh phúc ngọt ngào

=> Không gian nhỏ hẹp, gắn với thói thường.

   + “Bốn phương”, “trời bể mênh mang”: Không gian vũ trụ mênh mông, rộng lớn nâng tầm vóc người anh hùng lên tầm vũ trụ.

-> Thể hiện ước mơ, khát vọng lớn lao của người anh hùng.

-> Hạnh phúc gia đình vẹn tròn viên mãn 

* Luận điểm 2: Từ Hải với những ý chí, khát vọng vùng vẫy giữa trời đất

– “Trượng phu”: Cách gọi thể hiện sự trân trọng đối với những bậc anh hùng có tài năng, đức độ hơn người

=> Từ Hải quyết tâm từ bỏ không gian gia đình ấm êm để đến với không gian vũ trụ để vùng vẫy với những khát vọng.

– Tính từ “thoắt”: Sự mau lẹ, quyết đoán, tự tin không phân vân

-> Đúng với tình cách người anh hùng 

-” Động lòng ” : Thôi thúc, giục giã -> Bừng lên cái chí 4 phương

– Không gian : bốn phương, trời bể mênh mang  -> Rộng lớn, kì vĩ 

– Điểm nhìn :” Trông vời “- nhìn xa : Chất chứa khao khát, hoài bão 

– Hình ảnh ” thanh gươm yên ngựa” : Phong thái tự tin, ngạo nghễ, phong trần

– Tư thế : Lên đường thẳng rong : quả quyết, đầy khí phách 

=> Sự thức dậy của lí trí, khí phách anh hùng vượt lên những điều bình thường để làm những điều phi thường.

– Ánh mắt “trông vời” và tư thế “thẳng dong”: Khắc họa hình tượng người tráng sĩ với khát vọng vùng vẫy giữa trời cao

=> Người tráng sĩ lên đường với tư thế dứt khoát, mạnh mẽ đi liền một mạch không ngoảnh lại.

* Luận điểm 3: Từ Hải với chí khí, hoài bão, lớn lao, phi thường

– Hình ảnh “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường”:

=> Thể hiện hoài bão phi thường của Từ Hải, muốn xây dựng cơ đồ của một bậc đế vương, chí khí xứng đáng tầm vóc của một bậc anh hùng.

– Hình ảnh “bốn bể không nhà” kết hợp với câu hỏi tu từ “theo càng thêm bận biết là đi đâu”

=> Cảm giác cô đơn thấp thoáng của bậc anh hùng khi thực hiện hoài bão. Nhưng càng cô đơn, quyết tâm càng lớn.

– Khoảng thời gian “một năm”: Thái độ tự tin, quyết tâm thực hiện lí tưởng anh hùng.

-> Với những hình ảnh ước lệ đã cho thấy chí khí hoài bão, khát vọng lớn lao phi thường của người anh hùng Từ Hải.

* Luận điểm 4: Từ Hải với tình yêu và khát vọng hạnh phúc phi thường

– Trước lời nói của Kiều, Từ Hải đã trách móc nhẹ nhàng:

   + “Tâm phúc tương tri”: Là người tri kỉ, hiểu rõ lòng dạ của nhau.

=> Từ Hải lấy đạo tri kỉ ra để thuyết phục Kiều ở lại, với Từ Hải Kiều không phải người vợ, người tình mà là một người tri kỉ.

   + “Nữ nhi thương tình”: Thói nữ nhi tầm thường.

-> Với Từ Hải, Kiều không phải cô gái tầm thường mà là người thông minh, sắc sảo, tinh tế.

=> Lời trách móc của Từ Hải cho thấy tình yêu của chàng đối với Thúy Kiều không phải tình cảm tầm thường mà hết sức phi thường. Đó là mối tình tri kỉ, trân quý lẫn nhau.

– Khát vọng hạnh phúc phi thường của Từ Hải:

   + “Làm cho rõ mặt phi thường”: Thực hiện được hoài bão, lí tưởng anh hùng.

   + “Rước nàng nghi gia”: Rước Thúy Kiều danh chính ngôn thuận về làm vợ, cho nàng một danh phận.

-> Từ Hải ra đi không chỉ hướng đến sự nghiệp của một bậc anh hùng mà còn hướng đến khát vọng hạnh phúc phi thường của “trai anh hùng với gái thuyền quyên”.

* Luận điểm 5: Từ Hải – con người dứt khoát, tự tin, đầy bản lĩnh

– “Quyết lời”: Lời nói dứt khoát, quyết đoán

 – “Dứt áo ra đi”: Thái độ mạnh mẽ, quyết tâm, dứt khoát.

– “Gió mây bằng đã… đến kì dặm khơi”: Bút pháp lí tưởng hóa đã cực tả dáng vẻ tựa như cánh chim bằng cất mình bay thẳng vào muôn trùng dặm khơi của người anh hùng

=> Từ Hải là người có chí khí anh hùng, hoài bão lớn lao cùng bản lĩnh phi thường.

* Ý nghĩa hình ảnh Từ Hải

– Thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của thời đại: chí khí, hoài bão lớn lao, khát vọng phi thường

– Là biểu tượng về khát vọng tự do và lẽ công bằng.

* Đánh giá đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Bút pháp miêu tả, khắc họa nhân vật qua dáng vẻ, hành động, lời nói

– Ngôn ngữ đối thoại trực tiếp

– Hình ảnh ước lệ với các danh từ, động từ, tính từ giàu giá trị biểu đạt.

3) Kết bài

– Khái quát ý chí, tính cách của nhân vật Từ Hải.

– Liên hệ quan niệm về người anh hùng trong thời đại mới.

b) Sơ đồ tư duy 

Chí khí anh hùng
Chí khí anh hùng

c) Viết mẫu 

Mở bài : Chí khí anh hùng được trích từ phần thứ hai Gia biến và lưu lạc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là phần do Nguyễn Du sáng tạo ra không có trong nguyên tác chữ Hán. Trong đó, không thể không kể đến đoạn trích “Chí Khí Anh Hùng” với nội dung nói về  chí khí anh hùng của Từ Hải.Từ Hải là một giấc mơ của Nguyễn Du, giấc mơ anh hùng, giấc mơ tự do và công lý. Cho nên Từ Hải là một người chí khí, một người siêu phàm. Con người ấy đến từ một giấc mơ và ở lại như một huyền thoại. Hiện diện trong “Truyện Kiều” như một nhân cách sử thi, Từ Hải đã làm nên những trang sôi động nhất, hào sảng nhất trong cái thế giới buồn đau dằng dặc của “Đoạn Trường Tân Thanh”. 

Kết bài : Dưới hình thức một cuộc chia li, đoạn trích “Chí khí anh hùng” mang chở khát vọng tự do, công lí của Nguyễn Du. Từ Hải như một con đại bàng vỗ cánh làm xáo động cả đất trời. Chỉ có đôi cánh ấy mới che chở được những nạn nhân sống dưới gần trời tăm tối của thế giới “Truyện Kiều”.Đoạn thơ thấm nhuần tinh thần nhân đạo và có không ít câu thơ tuyệt hay, người đọc nhớ mãi.

19 views