Đánh giá: Không gian vô thức trong tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ

Mỗi con người là một vũ trụ thu nhỏ nhưng cũng đầy phức tạp, bí ẩn và chứa đựng nhiều bất ngờ. Ngoài vùng ý thức có thể kiểm soát được, con người còn có phần vô thức, tiềm thức và tâm linh. Rất khó để có thể lý giải nguyên nhân của mọi hành động bằng sự điều khiển hoàn toàn của lý trí. Hiện nay, vẫn chưa có được một sự giải thích thỏa đáng cho vai trò của tiềm thức, vô thức.

Không gian vô thức là khái niệm chỉ nơi diễn ra những hoạt động thần kinh nằm ngoài ý thức của con người, không diễn đạt được bằng ngôn ngữ như: linh cảm, tiềm thức, giấc mơ…

Tác giả Khôi Vũ

Thông tin cơ bản về sách

  • Thể loại: Tiểu thuyết
  • Tác giả: Khôi Vũ
  • Năm xuất bản: 2004
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thanh niên
  • Giá bán:

Sách dành cho:

Khôi Vũ là nhà văn đa tài. Ông thành công ở cả hai bút danh Nguyễn Thái Hải và Khôi Vũ. Sáng tác của ông có nhiều thể loại bao gồm cả văn học dành cho thiếu nhi. Lời nguyền hai trăm năm là một cuốn tiểu thuyết hay với nhiều tình tiết vừa hiện thực, vừa huyền thoại. Ngôn ngữ trong cuốn tiểu thuyết này dễ đọc và dễ hiểu chủ yếu là lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng mang hơi hướng Nam bộ. Chính vì vậy, cuốn tiểu thuyết này phù hợp với nhiều đối tượng độc giả. Đặc biệt trong đó là những độc giả đang nghiên cứu hoặc yêu thích văn học Việt Nam sau năm 1975.

Kết quả hình ảnh cho sách lời nguyền hai trăm năm - Khôi Vũ

Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ

Linh cảm

“Linh cảm” được hiểu là khả năng biết trước một điều gì đó không thông qua các hoạt động của các giác quan.

Đã từ rất lâu rồi, nhiều học giả vẫn còn rất đau đầu vì thế giới cảm tính vốn tồn tại trong ý nghĩ của con người nhưng lại vô cùng bí ẩn và khó lí giải. Điều đáng nói ở đây là chúng ta cảm nhận được một tín hiệu mách bảo nào đó từ thế lực siêu nhiên hay thuộc tính tự nhiên của con người, cái mà chúng ta thường gọi là “giác quan thứ sáu”? Vì rõ ràng chúng ta đều biết linh cảm không phải là kết quả của quá trình tư duy, nó nằm ngoài phạm trù logic và biện chứng. Nhưng kì lạ thay, trong một số trường hợp, những linh cảm ấy lại là điều đúng đắn, hợp lí và là điều cần phải làm…

Linh cảm là khả năng nhận biết bằng trực giác, sự mẫn cảm, bằng “giác quan thứ sáu” mà dường như không dựa trên một chứng cứ nào.

Linh cảm là khả năng nhận biết bằng trực giác, sự mẫn cảm, bằng “giác quan thứ sáu” mà dường như không dựa trên một chứng cứ nào. Nó thường được thể hiện qua một giấc mơ, một cái máy mắt, một cái ly hay một cái đĩa khi không rơi vỡ… Thông qua những biểu hiện kể trên, người ta dự cảm về điều gì đó có thể xảy ra trong tương lai. Ví như khi mơ một giấc mơ mà trong đó thấy mình rụng tóc, gẫy răng… thì khi tỉnh dậy người ta linh cảm rằng sẽ có điều xấu sắp xảy ra. Hay như khi đang nấu ăn mà làm rơi vỡ một chiếc ly, cái đĩa hay bị đứt tay thì chúng ta thường linh cảm đến những điều chẳng lành như người thân, người quen… có thể gặp điều không may bên ngoài. Tuy nhiên linh cảm cũng chỉ là vấn đề tâm linh chưa giải thích được và nó không hoặc không hoàn toàn có thật ngoài thực tại, không chắc chắn có khả năng xảy ra trong tương lai.

Ta có thể bắt gặp linh cảm trong một số tác phẩm như Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai. Người đọc có lẽ sẽ chẳng thể quên cậu bé Viên – người liên lạc của Hai Hùng mới 17 tuổi. Viên có một khả năng linh cảm rất kì lạ về chiến trận. Trước một trận chiến nào đó, nếu Viên tươi tỉnh thích nói thích cười thì y như rằng trận đó toàn thắng và ngược lại nếu cậu u buồn, ủ rũ, hay gắt gỏng thì có nghĩa trận đó sẽ trục trặc, trắc trở. Một hôm trước khi đột nhập ấp chiến lược, Viên bỏ cơm, tìm ra mép sông ngồi ở đó, đôi mắt buồn rười rượi. Hai Hùng thấy chột dạ bởi màu mắt trong veo của Viên. Trận đột nhập ấp chiến lược hôm ấy diễn ra thành công tưởng như lần này linh cảm của Viên không ứng nghiệm. Nhưng không, trên đường trở về, lúc mọi người không ngờ nhất, địch đã phục kích và Viên đã hi sinh. Hay trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng có nhiều chi tiết miêu tả sự chính xác của những linh cảm. Khi Phương mới 17 tuổi, cha Kiên, mẹ Phương đều cảm nhận được vẻ đẹp hoàn mỹ của Phương rồi sẽ lạc loài, mong manh. Sự thật là như vậy, Phương xinh đẹp hệt như một đóa hoa rực rỡ cùng với một tâm hồn hết sức thanh khiết chẳng hề phù hợp với chiến tranh binh lửa, tàn bạo khốc liệt. Cả cuộc đời Phương lận đận long đong và để rồi đến cuối cùng cũng không biết cô đã trôi dạt về đâu. Sự linh cảm cũng thành sự thật trong câu chuyện của Kiên và Từ. Chiến trường thì tàn khốc, đồng đội của Kiên dần dần ngã xuống và chỉ còn Từ là đồng đội cuối cùng. Từ trao cho Kiên cỗ bài duy nhất và nói rằng cậu sẽ chết trong trận này. Nếu giữ cỗ bài, Kiên sẽ được đồng đội phù hộ. Trận đó, Từ đã hi sinh và chỉ còn Kiên có cơ may sống sót.

Đọc tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm, người đọc có thể bắt gặp sự linh cảm của ông tổ họ Lê, trong một đêm, ông nằm mơ thấy họ Vũ hiện về, mình bị xả làm đôi và nhắc lại lời nguyền ngày trước: “dòng họ ngươi cho đến khi tuyệt tự mới hết kẻ ác tâm!”. Khi tỉnh lại, ông tổ họ Lê “toàn thân xuất hạn”, từ đó, trong lòng ông bứt rứt không yên dự cảm về những điều chẳng lành. Ít lâu sau thì phu nhân của ông mang thai và hạ sinh một cậu con trai khôi ngô tuấn tú nhưng những suy nghĩ về lời nguyền vẫn còn đau đáu. Về sau này, các đời họ Lê cứ khi người con trai được 15 tuổi thì cho tắm rửa, ăn chay một ngày rồi dắt ra đền thờ ba ông kể cho nghe về lời nguyền của dòng họ.

Lời nguyền đó đã ứng nghiệm ở các đời. Ở đời thứ hai, Gia Trí phản bội chủ tướng nên mới có con trai. Ở đời thứ ba, Châu Toàn ăn chơi xa đọa, bớt xén công quỹ, ăn bớt tiền của công nhân… mới sinh được một người con trai. Đời thứ tư dòng họ Lê, Phú Qúy không tán thành cách sống và làm việc của cha, không tin vào lời nguyền nhưng sau đó vô tình trở thành kẻ chỉ điểm hại một đồng chí chết oan, vậy đã làm một điều ác và có được con trai. Tuy nhiên, sau đó ông đi tu như một cách để xám hối về tội lỗi của mình. Sang đời thứ lăm, Hai Thìn cả đời sống lương thiện không làm điều ác, anh cũng không tin lời nguyền của dòng họ. Anh sống và giúp đỡ người khác, lấy ơn báo oán và thật lâu để có lấy một người con trai. Mặc dù mong muốn có con trai nhưng Hai Thìn quyết không làm điều ác dù hơn một lần anh bị vợ và cha tạo bẫy… Và rồi Hai Thìn chết trong một chuyến đi biển, Lài – vợ anh ở nhà đang mang thai đứa con của anh và hạ sinh một đứa con trai kháu khỉnh, bụ bẫm. Như vậy, lời nguyền của dòng họ Lê tồn tại bao đời nay đã được hóa giải.

Linh cảm là khả năng đặc biệt của con người và tất nhiên không phải ai cũng có năng lực đặc biệt này. Linh cảm thuộc về thế giới tâm linh, nó giúp cho con người như biết trước được tương lai. Trong Lời nguyền hai trăm năm, ông tổ thứ nhất dòng họ Lê linh cảm điều chẳng lành sau khi mơ giấc mơ họ Vũ về báo mộng. Và sự chẳng lành ấy đã xảy ra ở những đời sau của dòng họ ông.

Tiềm thức

Tiềm thức là phần tâm trí tinh thần hay phổ quát và nó không có giới hạn ngoại trừ những giới hạn do bản thân con người lựa chọn. Hình ảnh về bản thân và những thói quen của con người đều “sinh sống” trong tiềm thức. Nó hoạt động trong từng tế bào của cơ thể mỗi con người. Phần tâm trí này chính là sợi dây gắn kết con người với thế giới, với khởi nguồn và sự thông thái vô hạn của vũ trụ.

Tiềm thức là thường xuyên, là vô tận và nó chỉ hoạt động trong thời điểm hiện tại. Tiềm thức lưu giữ những kinh nghiệm và ký ức của con người, nó giám sát tất cả những hoạt động, những chức năng vận động, nhịp tim, tiêu hóa… của cơ thể con người. Tiềm thức theo nghĩa đen là nó sẽ tiếp nhận tất cả những suy nghĩ mà ý thức của con người đã chọn nghĩ. Nó không có khả năng bác bỏ khái niệm hay ý tưởng. Con người hoàn toàn có thể đưa ra những quyết định có ý thức để thay đổi nội dung tiềm thức của bản thân.

Tiềm thức là phần tâm trí tinh thần hay phổ quát và nó không có giới hạn ngoại trừ những giới hạn do bản thân con người lựa chọn.

Mỗi con người bình thường đều có những phần ký ức được lưu giữ do được tích lũy qua quá trình sống. Có những ký ức mà khi hồi tưởng lại chỉ thấy những ngọt ngào, hạnh phúc. Lại có những ký ức gợi về bao đau thương, tủi hổ. Và cũng có những ký ức khiến con người ta ám ảnh, sợ hãi và đôi khi biến con người thành nhỏ bé, yếu đuối … Những ký ức ấy thậm chí còn không mất đi ngay cả khi tuổi già đã đến. Ấy là khi chúng ta nghe những người già kể cho con, cháu nghe về cuộc đời, tuổi thanh xuân của họ. Những ký ức ấy tưởng chừng như đơn giản, bình thường vì ai chẳng có, thế nhưng một khi nó trở thành tiềm thức và tâm linh thì nó thực sự là một cánh đồng hoa thơm, cỏ ngọt mà không ít các nhà văn hiện nay muốn đi sâu vào khai thác, tận hưởng.

Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nhân vật Kiên bước ra khỏi trận chiến nhưng những ám ảnh về cuộc chiến ấy vẫn đeo đẳng anh. Sau một năm kết thúc chiến tranh, anh trở lại chiến trường xưa để tìm lại hài cốt đồng đội. Biết bao kỉ niệm, từng địa danh và cả những hình ảnh về cái chết của các đồng đội ùa về. Hàng đêm anh thường nghe thấy Can – đồng đội cũ trở về thì thào bên võng, lặp đi lặp lại cuộc nói chuyện nhạt nhẽo của hai người ở bên bờ suối buổi chiều hôm nào. Rồi những câu chuyện quái gở về những âm hồn vất vưởng lang thang cứ dày vò Kiên mãi không thôi. Qúa khứ và thực tai dường như đã hòa làm một trong tâm tưởng của Kiên. Đôi khi giữa phố phường đông đúc, mùi hôi hám pha tạp của nó khiến anh tưởng như đó là mùi thối rữa của xác người chết – một mùi gây gây ghê rợn. Và hơn thế, anh chẳng có những giấc ngủ yên lành bởi lẽ chỉ với tiếng rít của quạt trần khiến anh hoảng loạn tưởng như tiếng trực thăng vũ trạng…

Trong tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm, ký ức đau thương, những ám ảnh trong quá khứ khiến cho Tòng Mật – một cô gái xinh đẹp của làng dân tộc bỏ cả tuổi thanh xuân mà sống trong thù hận. Châu Toàn (đời thứ ba của dòng họ Lê làng Biển Cát) một lần vào rừng săn và trong lúc đang lần theo dấu vết của con chim lạ thì gặp một cô gái người dân tộc đi nhặt củi rừng. Anh ta với bản tính trăng hoa đã tìm mọi cách tán tỉnh cô gái và cuối cùng Châu Toàn đã chiếm trọn được tâm hồn và thể xác của cô gái dân tộc ngây thơ ấy. Thế nhưng, khi Châu Toàn quen được một cô gái trên huyện thì anh ta bỏ ngay các chuyến đi rừng và ký ức về cô gái dân tộc kia chẳng còn lại gì ngoài cái tên Tòng Mật. Và từ ấy, cô gái dân tộc đó sống trong nỗi hận thù của quá khứ và vô tình trở thành người thi hành và quyết định sự trừng phạt những kẻ có tội ở làng dân tộc thay cho Thần Rừng như một sự trả thù. Chính vì thế mà sau này khi Tòng Út mang tội làm nhục một cô gái thì bà Cả Mọi (Tòng Mật) đã vô cùng tức dận, bao hận thù khi xưa dồn về, không ai có thể nói đỡ cho Tòng Út và bà đã thay mặt Thần Rừng trừng phạt đuổi Tòng Út ra khỏi rừng và cấm không cho anh nói tiếng dân tộc. Đó là một sự trừng phạt đau đớn hơn cái chết đối với một người con yêu tha thiết tiếng dân tộc mình.

Năm Tòng Út hai mươi lăm tuổi, chàng yêu tha thiết một cô gái. Có đôi lần Tòng Út chặn đường cô gái giữa rừng để tỏ tình và van cầu tình yêu. Chàng đã hát bài tình ca thống thiết:

Cái trái bầu tròn làm chết hoa xanh

Cái môi mày cười làm đau tim tao

Sao mày ca trên rừng để con chim ghen bay

Sao mày ca trong làng để tao thêm say

Tao xin Thần Rừng

Cho mày là của tao…

Bài tình ca thống thiết, ngọt ngào như thế mà tấm chân tình của Tòng Út đã không được cô gái đáp lại. Có lẽ vì quá si mê, quá chìm đắm trong tình yêu ấy mà Tòng Út không nhận ra đó là một cô gái xinh đẹp nhất làng trong khi anh lại là một thanh niên gầy gòm, xấu xí và quanh năm ốm yếu. Niềm khao khát tình yêu đến tột cùng khiến Tòng Út không thể kiềm chế, anh chặn người mình yêu giữa rừng, dùng sức mạnh của mình cưỡng bức cô gái và nghĩ rằng chỉ có cách này anh mới có thể cưới được cô. Thế nhưng, cô gái ấy đã treo cổ tự vẫn. Tòng Út đau đớn và vô cùng ân hận. Chàng trai ấy đã khóc than, thú tội và xin được chết để chuộc lại lỗi lầm. Thế nhưng già làng không cho anh được thỏa ước nguyện, đuổi anh ra khỏi làng, không cho anh nói tiếng dân tộc mình… Về sống với người Kinh, Tòng Út vẫn đau đáu về lỗi lầm khi xưa và ám ảnh về hình phạt mà anh phải nhận…

Hối hận, tự giày vò mình về hành động phản bội chủ tướng ngày trước, Gia Trí (đời thứ hai của dòng họ Lê làng Biển Cát) như kẻ sống nhờ trên thân xác của mình. Năm ấy, ông phò dưới cờ Bình tây đại nguyên soái phải trải qua biết bao gian khổ, nguy hiểm. Giặc Pháp mở nhiều cuộc tấn công lớn. Gia Trí có chút yếu lòng khi nghĩ về gia đình, nếu ông có mệnh hệ gì thì vợ ông mất chồng, con ông mất cha và dòng họ Lê mất người nối dõi. Gia Trí mơ ước một cuộc sống an nhàn bên vợ con. Đúng lúc này, Công Tấn cùng theo phò Trương Định như Gia Trí những ngày đầu đã mở lời muốn cùng ông làm nội gián cho Pháp. Gia Trí đã xiêu lòng. Trong trận đánh ở Kiềng Phước năm ấy có bàn tay phản bội của Công Tấn và Gia Trí, Trương Định bị trọng thương, rút gươm tự sát. Sau ngày ấy, giặc Pháp ngỏ lời ban chức tước, tiền bạc nhưng Gia Trí lòng đầy hối hận giày vò. Ông lặng lẽ trốn về làng Biển Cát đi biển nuôi vợ con. Thế nhưng, những ám ảnh về việc phản bội chủ tướng năm nào khiến ông ngày càng trở lên lẩn thẩn, trí nhớ kém đi, phán đoán sai lầm làm mất uy tín và đôi khi nói năng như một kẻ mất trí.

Mặc dù không tin vào lời nguyền của dòng họ nhưng Phú Qúy – đời thứ tư của họ Lê vẫn rất mong muốn có con trai. Tuy vậy, ông cũng không chấp nhận làm những điều ác tâm. Số phận đưa đẩy, ông vô tình trở thành kẻ chỉ điểm khiến cho một đồng đội bị chết oan. Như thế là đã làm một điều ác tâm và ông có được con trai. Nhưng ám ảnh về tội lỗi của mình khiến ông không thể sống bình thản được. Ông quyết định đi tu để xám hối và như để cầu xin tha thứ.

Bằng hàng loạt những ám ảnh tâm linh, những tiếng vọng từ tiềm thức, nhà văn đã tạo nên một hiện thực ở bề sâu cuộc sống con người, cái hiện thực ngầm, khuất lấp ngay sau cuộc sống thực tại được phô bày. Từ hiện thực đó, con người được quan sát, đánh giá ở nhiều chiều kích khác nhau, nhiều điểm nhìn khác nhau. Điều này góp phần quan trọng trong việc xây dựng quan niệm mới phong phú và đặc sắc hơn về con người.

Giấc mơ

Giấc mơ thường được coi là là sự tái hiện suy nghĩ của con người dưới dạng không tự giác, giấc mơ còn là điềm báo trước tương lai. Hiện nay vẫn chưa thể chắc chắn có nên tin vào những giấc mơ, điềm báo hay không. Các nhà văn sử dụng các giấc mơ trong sáng tác của mình trước hết là như một thủ pháp nghệ thuật để khám phá thế giới bên trong con người, làm thoát lộ ra cái phần ẩn trong tâm trí con người. Đôi khi các nhà văn sử dụng giấc mơ để nói ra điều mà không dám nói ngoài thực tại hoặc thậm trí là thực tại của nhân vật. Mơ, hay giấc mơ là những trải nghiệm, những ảo tưởng trong trí óc khi ngủ.

Hiện tượng mơ không chỉ xảy ra với con người mà cũng có thể xảy ra ở các động vật có vú và một số loài chim. Tuy nhiên khi nhắc đến giấc mơ thì thường chỉ đề cập đến hiện tượng này ở con người. Các sự việc trong giấc mơ thường không xảy ra được hoặc không giống với thực tế, chúng thường nằm ngoài sự điều khiển của giấc mơ. Ngoại trừ trường hợp giấc mơ sáng suốt (giấc mơ tỉnh táo), trong đó người nằm mơ nhận ra rằng họ đang nằm mơ, đôi khi có thể làm thay đổi thực tại giấc mơ của họ. Những người nằm mơ có thể trải qua những cảm xúc mãnh liệt khi đang mơ.

Con người thường mơ một đến hai giờ và có thể bốn đến bảy giấc mơ mỗi đêm. Mọi người đều mơ nhưng chỉ một số người nhớ được giấc mơ của họ. Giấc mơ thường bao gồm tất cả các tri giác. Trong giấc mơ thường có các hình ảnh, các âm thanh, các màu sắc, mùi vị, các đồ vật, mọi thứ mà chúng ta có thể cảm nhận. Thỉnh thoảng chúng ta lặp đi lặp lại cùng một giấc mơ. Các giấc mơ thường khó chịu, đôi khi khủng khiếp và được nhắc đến như là ác mộng.

Liệu có nên tin vào những giấc mơ ?

Chi tiết giấc mộng cũng được rất nhiều nhà văn chú ý khai thác. Trong tác phẩm Ông lão gác vườn thuốc và con chó Phúm, Ma Văn Kháng rất chú ý trong việc xây dựng chi tiết giấc mơ khủng khiếp của ông Tài. Trải qua cơn mơ, ông chẳng thể tin vợ mình đã ngoại tình và lừa dối mình rằng kẻ khác đã đến và đánh cắp vợ ông. Nhưng đau đớn thay đó lại là sự thật “Chao ôi! Hóa ra những giấc mộng là những dự báo xác thực! Hóa ra số phận ông lại quá nhiều cay đắng, thiệt thòi. Và bà vợ ông, thực tế đã phản bội ông mà miệng thid xoen xoét dối lừa”. Hay trong tác phẩm Mảnh đất nắm người nhiều ma, giấc mơ của ông Hàm mới khủng khiếp làm sao. Cái chết đầy oan khuất và tức tưởi của bà Son còn ám ảnh như một sự chất vấn với lương tri những kẻ đang tâm dung danh dự tình yêu của con người vào sự lừa gạt hèn hạ.

Ông tổ của dòng họ Lê, năm xưa theo đức Thế tổ chinh chiến khắp nơi, mối thù gia huynh bị phanh thây nơi trận tiền làm lòng ông ôm hận thù. Cha con họ Vũ rơi vào tay ông, chúng là tướng dưới cờ Tây Sơn – kẻ thù của ông. Nỗi uất hận dâng lên, mối thù gia huynh năm xưa ông quyết trả lên cha con họ Vũ và quyết không cho chúng có được cái chết nhẹ nhàng. Ông cho người banh mắt họ Vũ buộc hắn phải chứng kiến cảnh ông tự tay xẻo từng miếng thịt đứa con gái của hắn rồi không kiềm nổi cơn thịnh nộ ông vung gươm chém cái xác đã chết từ lúc nào mà băm vằm nó ra. Họ Vũ đã nguyền rủa rằng: “dòng họ ngươi chỉ đến khi tuyệt tự mới hết kẻ ác tâm!”. Ông tổ họ Lê giận dữ, vung gươm xả thân họ Vũ làm hai mảnh… Thời gian qua đi, hận thù cũng đã nguôi ngoai, một đêm nọ, ông tổ họ Lê nằm mơ thấy họ Vũ hiện về, người bị xả làm hai mảnh, mắt trừng lên nhắc lại lời nguyền. Từ đó trong lòng ông tổ họ Lê không lúc nào yên. Ông linh cảm có điều gì đó chẳng lành.

Phu nhân ông tổ họ Lê, đêm ấy, gặp một cơn ác mộng, nàng thấy một tên võ tướng mình bị xả làm hai mảnh đến xin được đầu thai làm con nàng để trả mối thù riêng. Giấc mơ kinh hoàng khiến nàng sợ hãi, ông tổ họ Lê bàng hoàng nhớ lại lời nguyền của họ Vũ năm xưa. Rồi phu nhân thọ thai và hạ sinh một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, giấc mơ cũng dần được quên lãng. Lời nguyền của họ Vũ đã ứng nghiệm.

Những giấc mơ có thật sự linh ứng hay không? Khoa học luôn phủ nhận việc những giấc mộng có thể hiện thực hóa. Tuy nhiên, trong tư tưởng người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng những giấc mộng vẫn luôn là điều thiêng liêng huyền bí không thể khẳng định nhưng tuyệt nhiên cũng không thể phủ nhận nó. Việc khai thác và sử dụng yếu tố giấc mơ trong văn học không phải là một hình thức tuyên truyền mê tín dị đoan mà là một cách để đánh giá và nhìn nhận cuộc sống cũng như con người ở nhiều góc độ khác nhau. Hay nói cách khác đây là cách tạo lên cái nhìn đa diện nhiều chiều và như thế nhà văn có thể khai thác tối đa và mọi mặt của đời sống xã hội và con người.

Nhận định đánh giá hoặc cảm nhận

Lời nguyền hai trăm năm là một trong những tiểu thuyết thành công nhất trong sáng tác của tác giả Khôi Vũ. Tác phẩm song song hai cốt truyện với những tình tiết lồng ghép hấp dẫn. Cả hai nhân vật chính trong hai cốt truyện đều phải gánh chịu lời nguyền. Hai Thìn gánh chịu lời nguyền truyền kiếp của dòng họ Lê kéo dài suốt 200 năm. Lời nguyền ấy chỉ kết thúc khi anh quyết tâm không làm điều ác tâm và chết đi như một sự chấm dứt tất cả. Tòng Út là một người con của làng dân tộc. Nhưng chỉ vì tình yêu mà mất đi lí trí dẫn đến hành động thiếu kiểm soát là chặn cô gái giữa rừng và chiếm lấy thân xác cô. Điều ấy đã khiến cô gái uất ức mà quyết định chết. Tòng Út bị đuổi khỏi làng dân tộc. Cuối cùng anh cũng chết dưới biển và chứng minh được mình vẫn mãi là con của thần rừng. Cốt truyện lồng ghép, đan xen hấp dẫn người đọc. Tác phẩm là câu chuyện ý nghĩa đầy tính nhân văn sâu sắc về tình người và cả mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.

Một và nơi bạn có thể mua sách

Bạn có thể mua sách ở nhiều nhà sách hoặc tải sách trực tiếp từ trên mạng.

Kết quả hình ảnh cho sách lời nguyền hai trăm năm - Khôi Vũ

Khôi Vũ trong buổi kí tặng sách cho học sinh

Không gian vô thức chứa đựng những điều bí ẩn. Thông qua những linh cảm, tiềm thức và giấc mơ, đời sống cũng như tâm tư tình cảm của con người được phơi bày một cách rõ nét nhất. Đây cũng là một góc nhìn sáng tạo của tác giả vì nó giúp người đọc có thể thấy được một nhân vật hoặc sự vật hiện tượng trong tác phẩm ở nhiều góc độ khác nhau.  Qua đó có thể có được một đánh giá, nhìn nhận sâu sắc, chính xác và đầy đủ nhất về tác phẩm này.

68 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá / 5. Số đánh giá