Đánh giá: Không gian biểu tượng trong tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ

Không gian biểu tượng là hình thức tồn tại của biểu tượng nghệ thuật. Có rất nhiều không gian trong Lời nguyền hai trăm năm của nhà văn Khôi Vũ: không gian ở pháp trường nơi ông tổ họ Lê hành quyết cha con họ Vũ; không gian trong rừng nơi Châu Toàn đi săn mỗi cuối tuần và gặp gỡ rồi gây ra vết thương lòng cho Tòng Mật (bà Cả Mọi), cũng là nơi Tòng Út vì yêu mà cưỡng hiếp cô gái đẹp nhất làng dân tộc khiến cô treo cổ tự vẫn trong rừng; không gian ở biển nơi ngư dân làng Biển Cát đi đánh bắt cá và là nơi Gia Trí, Hai Thìn lặn xuống thăm luồng cá và nói chuyện tâm sự với biển; không gian ở làng Biển Cát nơi dòng họ Lê và đặc biệt là Hai Thìn – vua biển sinh sống, ở đây xảy ra nhiều sự kiện và đặc biệt là hóa giải lời nguyền dòng họ Vũ.

tải xuống
Tác giả Khôi Vũ

Thông tin cơ bản về sách (dùng câu khác cùng ý nghĩa)

  • Thể loại: Tiểu thuyết
  • Tác giả: Khôi Vũ
  • Năm xuất bản: 2004
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thanh niên
  • Giá bán:

Sách dành cho nhiều đối tượng

Tác phẩm chứa đựng cả những ngôn ngữ bình dân lẫn những yếu tố huyền thoại kì ảo. Chính vì vậy, Lời nguyền hai trăm năm không kén chọn độc giả. Bạn đọc thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau đều có thể đọc tác phẩm này.

1
Lời nguyền hai trăm năm

Biển, cát, gió, rừng phi lao

Biển là một biểu tượng lớn xuất hiện 440 lần trong tác phẩm. Biển là người bạn yêu thương, trò chuyện với Hai Thìn và cho anh những luồng cá. Làng của Hai Thìn được gọi là Biển Cát vì nơi này ngoài biển ra chỉ còn toàn là cát và trong cùng là rừng phi lao. Biển cũng là nơi sinh sống và hoạt động nghề đánh bắt cá của nhân dân là làng Biển Cát. Người ta bảo Hai Thìn có cái tài lặn xuống biển nghe luồng cá, biết chỗ nào có thể quăng lưới, chỗ nào có nhiều cá và tài năng này như được di truyền từ người đàn ông thứ hai dòng họ Lê là Gia Trí. Năm xưa, Gia Trí cũng là một người tài giỏi, tướng mạo phi phàm lại có cái tài đi biển nghe luồng cá được nhân dân ngưỡng mộ. Hai Thìn thừa hưởng được cái tài ấy và mỗi lần đi biển anh lại thu được rất nhiều cá và trở thành người đánh cá giỏi nhất vùng và cũng giầu lên nhanh chóng. Cũng chính vì giàu có của Hai Thìn mà tạo lên sự ganh ghét đối với Năm Mộc, để trong buổi tối hôm ấy Năm Mộc ngồi trà trộn trong dân và phát biểu ý kiến rằng Hai Thìn giàu có là anh bóc lột dân nên phải đi cải tạo, phải đi làm kinh tế mới. “Bao năm qua, ở làng Biển Cát này, ta đi biển, lặn xuống biển cả nghe luồng cá, quăng lưới, đem cá về bờ… chẳng được coi là có lao động chân tay nữa. Ta đã phải ra đi chỉ vì một cái tội rất lớn: cái tội có nhiều tiền!”. Cũng chính từ đây, Hai Thìn phải xa biển, xa người bạn thân thiết. Cho đến khi anh có thể quay trở lại làng Biển Cát này thì biển cả vẫn một lòng yêu thương anh. Biển cho anh những luồng cá mới, cho anh cơ hội làm lại cuộc sống, lấy lại những gì anh đã mất và cả lòng tin của người dân làng. Nhưng cuối cùng vì lòng tham của Năm Mộc nên mẹ biển đã nhấn chìm thuyền của Hai Thìn, lấy đi mạng sống của anh và Tòng Út, may mắn cũng chỉ có Năm Mộc sống sót nhờ vào sự giúp đỡ của Hai Thìn. Hai Thìn làm xong phận sự với làng Đoàn Kết, đáp ứng ước nguyện của người cha: để lại giọt máu (con trai) nối dõi. Anh thanh thản “chìm vào vòng ôm tiếc thương của mình. Biển cả”. Còn Tòng Út: “Anh thấy mình từ từ chìm xuống. Hai tay anh cố vươn cao, một tay cầm đàn, tay kia cố gẩy vào sáu sợi dây đàn, nghĩ là mình nghe những âm thanh cuối cùng của rừng núi. Anh hướng về phía bờ, đọc lời khấn Thần Rừng lần đầu tiên bằng tiếng người dân tộc kể từ khi bị trừng phạt. Cũng là lần cuối cùng của đời anh”. Tất cả đều mãn nguyện cả cuối cùng vẫn không ngăn được cơn giận dữ của mẹ biển nên đành chấp nhận ôm người bạn trong sự tiếc thương mà mất bạn mãi mãi còn Hai Thìn thì như đã sống tận đời mình, anh thản nhiên chấp nhận.

Qua đây, tác giả muốn nhấn mạnh lòng tham của con người có thể sẽ bị trả giá bằng cái chết. Đồng thời mẹ biển nuốt trọn Hai Thìn và Tòng Út cũng là một sự nhân đạo như là sự giải thoát cho họ. Tòng Út đã bị thần biển chừng phạt chứng tỏ rằng anh vẫn luôn là con cháu của thần rừng, một lòng hướng về làng dân tộc không bao giờ thay đổi, đó cũng là ước mong của anh. Bên cạnh đó, Hai Thìn cũng dã hóa giải được lời nguyền: phải làm điều ác mơi có được con trai. Khi Hai Thìn chết, cũng là lúc vợ anh mang trong mình đứa con trai của anh. Đó chính là sự nhân đạo của tác giả.

Biểu tượng cát xuất hiện 140 lần trong tác phẩm. Cát cùng với biển và gió là những người bạn thân thiết của Hai Thìn. Làng Biển Cát, sở dĩ có tên này là vì nơi đây ngoài biển chỉ toàn là cát, những bãi cát chạy dài mãi. Cũng dễ hiểu khi mà đối với Hai Thìn biển và cát lại có thể là những người bạn thân thiết vì đã gắn bó từ lúc lọt lòng. “Hai Thìn ra khỏi trụ sở ủy ban. Chân lại bước lún trên con đường cát. Làng Biển Cát quê anh, nơi nào cũng cát”.

Ở một vùng đất mà chỉ có biển và cát thì gió cũng sẽ là một yếu tố không thể thiếu mang đến đặc trưng riêng biệt. Biểu tượng gió xuất hiện 40 lần trong tác phẩm. Gió biển xuất hiện lần đầu tiên khi đón Hai Thìn từ vùng kinh tế mới về. “Gió biển ào vào từ ngoài khơi, hỏi anh: “vua biển có khỏe không?” Gió biển quấn quýt: “ở lại đây, đừng đi đâu nữa”. Gió biển dâng anh vị mặn của muối: “hãy nếm đi vua biển, cho da thịt hồng hào, săn chắc lại”. “Lâu lắm gió biển mới chịu từ giã anh”. “Nó đến chuyện trò với rừng phi lao, rì rào, rì rào” [18, tr.8]. Cuộc trò chuyện ngắn ngủi nhưng rất thân thiết giống như cuộc trò chuyện giữa những người bạn thân lâu năm mới có dịp gặp lại. Gió báo với biển cả rằng vua biển đã trở về với biển. Khi Hai Thìn bị Năm Mộc gây khó khăn khi ở bờ biển, Năm Mộc dương súng bắn Hai Thìn, tất thảy đều kinh sợ. Khi Năm Mộc bỏ đi, “chỏm tóc còn lại trên đầu hói của ông ta bay lất phất. Chính là gió biển đang trêu ghẹo Năm Mộc. Chúng xô cái thân hình gầy nhẳng của ông ta liêu xiêu trên con đường cát”. gió biển bốc cát ném vào mặt hắn rồi khi hắn bỏ đi gió biển theo trêu chọc hắn bằng cách đùa ngịch với mấy sợi tóc trên đầu hắn đùa giỡn thỏa thích rồi mới chịu được ra phía biển, cười khoái trá trong lúc kể chuyện cho rừng phi lao nghe. Gió biển theo Hai Thìn về ủy ban rồi cùng với cát hất tung giấy tờ trên bàn cùng bụi mù cát mãi khi Hai Thìn phải bảo đi nơi khác chơi mới chịu đi. Ngày Hai Thìn tân gia nhà mới “Gió biển từ ngoài khơi được tin, bay đến tận nhà Hai Thìn để chia vui cùng vua biển. Rừng phi lao đứng chờ gió biển trở về, kể chuyện. Chuyện không ít. Gió biển phải lưu lại khá lâu. Chẳng ai lưu ý sự có mặt của nó, trừ con ó lửa đứng ở góc phòng. Gió biển cố ghi nhớ để còn kể lại cho rừng phi lao nghe…”. Tình cảm thật thân thiết.

Rừng phi lao gặp lại Hai Thìn như được gặp lại người bạn cũ: “những cây phi lao nghiêng người vào bờ, nhìn cho rõ hơn vua biển sau một năm xa cách”. Khi nghe gió biển kể về chuyện Năm Mộc bị ngượng và bị gió chọc ghẹo: “Những cây phi lao lại ngả mình vào bờ, nhìn theo ông xã đội phó”. Rừng phi lao quan tâm Hai Thìn, chúng thường dò hỏi gió biển về anh, tâm sự và lo lắng cho Hai Thìn giống như gió biển vậy.

Nhà văn miêu tả gió, biển, cát và rừng phi lao có hành động, có lời nói, có tâm trạng, có cảm xúc như những sinh vật sống thực và có khả năng giao tiếp với con người. Gió biển và rừng phi lao có tính cách tò mò, tinh nghịch, gió thích chọc ghẹo người khác.

Con ó, cây đàn ống tre

Con ó xuất hiện trong tác phẩm cùng với Hai Thìn khi từ vùng kinh tế mới về. Con ó là người bạn thân thiết luôn ủng hộ Hai Thìn, góp mặt trong tất cả các hoạt động, sự kiện của Hai Thìn ở làng Biển Cát. Con ó xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm là khi cùng với Hai Thìn về làng. Đậu trên vai Hai Thìn, nghe anh nói chuyện với gió biển, nói chuyện với lũ trẻ… Con ó lửa bị Hai Thìn bẻ gãy đôi cánh khiến nó không thể bay lên được: “Con ó bấu những cái móng đã tẩy của nó lên vai áo anh vì sợ gió biển làm ngã. Nó hỏi anh: Đây là đâu? Những người kia là ai?” . Con ó lửa ghét cay, ghét đắng bọn gió biển vì chúng có vị thật là mặn và nó chẳng thể chịu nổi: “Tôi không quen lũ gió có vị mặn. Hay cho tôi trở lại rừng cũ vậy”. Con ó lửa trò chuyện với Hai Thìn và hỏi anh vì sao lại nói với Năm Mộc là người làng nhưng lại từng sống với nhau như kẻ thù. Nó thắc mắc về mối quan hệ của loài người ở cái làng Biển Cát này. Một con vật được nuôi như là thú cưng lại có tình thương sâu sắc với chủ của mình, quan tâm lo lắng hơn là giữa loài người với nhau. Con ó theo Hai Thìn trong cả buổi đi biển cuối cùng Hai Thìn không trở về nữa, con ó cũng không trở về nữa.

Cây đàn tre là nhạc cụ của Tòng Út, là nơi anh trút bầu tâm sự. Tòng Út từ nhỏ đã “còi cọc, yếu đuối”, mẹ mất vì băng huyết sau khi sinh anh. Một lần vì người chị gái ham chơi mà bỏ bê để Tòng Út ra bờ suối chơi và trượt chân té xuống suối, anh sống được là nhờ vào lá thuốc trong rừng mà thầy Nhang cho uống. Năm Tòng Út mười hai tuổi, vẫn rất còm cõi, mỗi năm lên cơn bệnh vài ba lần, lần nào cũng phải nuốt vào bụng rất nhiều lá rừng. Buồn vì bản thân không được khỏe mạnh, cường tráng như bạn cùng trang lứa, anh xin người lớn làm cho một cây đàn ống tre để tập gảy cho đỡ buồn. Từ đó, đàn ống tre trở thành người bạn thân thiết của Tòng Út. “Đàn ống tre tiếng trong tiếng đục. Giọng hát của Tòng Út khi bổng khi trầm”. Và cũng từ khi ấy, Tòng Út trở thành cậu bé nghệ sĩ của làng dân tộc. Năm Tòng Út hai mươi, anh tuy vóc dáng nhỏ nhưng cungc biết đánh bẫy, đâm cá suối…và muốn cưới một cô gái về làm vợ nhưng không ai ưng cả. Vì thế tiếng đàn của Tòng Út càng thêm buồn, tiếng hát thêm não lòng. Hằng đêm, Tòng Út thường than thở với cây đàn ống tre thân yêu. “Hai đứa nói chuyện với nhau mãi đến lúc cả hai đứa cùng thiếp đi vì mệt”. Năm Tòng Út hai mươi lăm tuổi, anh yêu tha thiết một cô gái. Đôi lần, Tòng Út chặn cô gái giữa rừng để tỏ tình, để van xin tình yêu, hát những bài ca thống thiết. Nhưng đau đớn thay, tình yêu của Tòng Út chỉ là tình đơn phương, bao lời bay bổng, ngọt ngào của anh cũng không được cô gái đáp lại. Bởi trong sự ngây dại của tình yêu, Tòng Út đã vô tình không nhận ra người mà anh yêu là cô gái đẹp nhất làng dân tộc, còn anh thì chỉ là một thanh niên còm cõi, ốm yếu, xấu xí. Rồi tình yêu ấy như điên dại, Tòng Út không còn kiểm soát nổi mình, anh chặn người mình yêu giữa rừng rồi dùng sức mạnh trai tráng mà cưỡng bức cô. Cô ái tự vẫn trong rừng. Tòng Út khóc than và xin được chết để chuộc lỗi nhưng già làng lại chừng phạt anh với một hình phạt còn đau đớn hơn cái chết đó là ra khỏi làng và không được nói tiếng dân tộc mình. Điều ấy còn đáng sợ hơn bất cứ hình phạt nào đối với Tòng Út. Anh gạt nước mắt ra đi với cây đàn ống tre và bài hát não lòng:

“…xa rừng ta như trăng xa đêm

Thiếu chim thú ta buồn như suối mùa khô kiệt nước”

Như vậy cây đàn tre theo Tòng Út từ nhỏ cho tới những ngày yêu khờ dại và cùng anh đi khỏi làng dân tộc để chịu phạt. Cây đàn vang lên biết bao nốt thăng, nốt trầm như cuộc đời của Tòng Út vậy. Một vật vô tri vô giác dưới ngòi bút của Khôi Vũ lại giống như một sinh thể sống thực, một người bạn tâm giao thủy chung, có tâm tư và tình cảm như con người.

Bệnh trời hành

Những người phụ nữ trong tác phẩm ít nhiều đều có những đắng cay. Bà Cả Mọi (Tòng Mật) sống cuộc sống của kẻ bị bỏ rơi, cô độc trong một căn nhà giữa rừng. Tám (vợ Ba Vui), vợ Mười Hoà, cả hai người phụ nữ này chồng đều mất sớm, tưởng như bấy nhiêu đau thương ấy đã là quá nhiều đối với hai người phụ nữ yếu đuối, nhưng không sau khi mất đi người chồng đầu ấp tay gối họ còn mắc một chứng bệnh lạ, đó là bệnh trời hành. Đau đớn hơn, cái bệnh trời hành ấy lại bị con rắn độc Năm Mộc biết được, hắn lợi dụng, giày vò, hành hạ về cả thể xác lẫn tâm hồn khiến cho vợ Mười Hòa thêm đâu khổ, nhục nhã. Sau cùng, Lài và cô giáo Út, cả hai cùng mất người thân yêu nhất của mình. Nước mắt rơi không ngừng, họ gào thét trong đau đớn, người mất chồng, kẻ mất người yêu, xót xa đến tột cùng.

Nguyên nhân những nỗi thống khổ của những người phụ nữ ấy, về sâu xa, đều là do đàn ông, cùng với những quan niệm, hoàn cảnh xã hội trói buộc họ. Đàn ông đã xử với họ thật đê tiện (Châu Toàn sau khi chiếm chọn được tình yêu và thể xác của Tòng Mật, những lần sau đó anh ta đến với cô cũng không hẳn vì tình yêu mà là dục vọng. “Cho đến khi anh quen một cô gái khác ở huyện, anh chấm dứt ngay những chuyến đi rừng, quên hẳn những gì đã xảy ra nơi đó. Trong trí nhớ của Châu Toàn về một cô gái người dân tộc, còn chăng, chỉ là cái tên của cô ta: Tòng Mật!”. Năm Mộc – một con rắn độc, biết được vợ Mười Hòa mắc phải bệnh trời hành hắn chẳng thương xót cho thân phận người phụ nữ ấy thì thôi, hắn lại lợi dụng vào điều ấy mà nhằm lúc cơn bệnh phát tác, lúc người đàn bà đáng thương không có khả năng chống cự mà thỏa mãn nhục dục của bản thân. Không những thế, hắn còn dọa sẽ nói cái chuyện đáng xấu hổ ấy ra cho mọi người biết để moi tiền của vợ Mười Hòa và đôi khi chỉ là để thỏa mãn cơn khát dục của lão dù lúc ấy người đàn bà kia hoàn toàn tỉnh táo khỏe mạnh: “Gần đây, Năm Mộc lại nghĩ ra một mẹo hay. Chẳng phải đợi đến đêm trăng tròn nữa, mà cứ khi thèm muốn, ông lại mò đến nhà vợ Mười Hòa. Rất hiếm khi người đàn bà ấy chịu chiều ý ông. Trong trường hợp đó, ông sẽ vòi vĩnh một số tiền để đi đánh bạc. Ông dọa, nếu không thì ông sẽ đi rêu rao khắp nơi cái chuyện chẳng hay ho kia”.

Khôi Vũ chưa đặt ra vấn đề giải phóng phụ nữ, mặc dù nhà văn đã đặt họ vào những vị trí không lệ thuộc đàn ông (bà Cả Mọi sau khi bị Châu Toàn bỏ rơi cũng không theo bất kỳ một người đàn ông nào khác nữa. Một mình bà sống trong một căn nhà giữa rừng và được dân làng kính trọng). Và một hình ảnh vô cùng chua xót đó là hình ảnh Lài bên xác chồng: “Lài được tin, chạy như người mộng du thẳng đến bãi biển… Hai Thìn nằm úp sấp, dáng hồn nhiên của người đang ngủ say… Lài ôm lấy thân thể chồng, lật anh nằm ngửa, áp tai sát ngực anh mà tìm một nhịp đập trái tim. Chị chẳng sao tìm được, dẫu một nhịp đập nhỏ nhất, dẫu một nhịp đập cuối cùng. Hai Thìn nhắm mắt như ngủ, môi cười. Anh ngủ. Anh ngủ thôi mà…”. Khôi Vũ miêu tả rất thương cảm cảnh vợ Mười Hòa bị bệnh “trời hành”, nhất là những lúc chị bị Năm Mộc giày vò cả thể xác và linh hồn. Người đọc hẳn là rất mực thương xót cho số phận hẩm hiu của chị, không thể không căm phẫn trước những kẻ đê tiện như Năm Mộc. Tuy nhiên, Khôi Vũ hé mở ra hướng giải quyết như là một sự nhân đạo cho những người phụ nữ bất hạnh ấy đó là: tìm cho Tám một tấm chồng để chị không còn phải chịu căn bệnh quái gở “trời hành”, bù đắp sự mất mát lớn lao của Lài, mất chồng nhưng chị lại mang thai đứa con của anh và hạnh phúc hơn đó lại là một bé trai – niềm mơ ước của hai vợ chồng và lời nguyền của dòng họ Lê năm xưa được hóa giải. Bà Cả Mọi thấy được con cháu ấm no, hạnh phúc. Thế nhưng những bi kịch vẫn tồn tại. Kẻ xấu, con rắn độc Năm Mộc được Hai Thìn cứu sống vẫn nhởn nhơ, tự hào rằng hắn được “trời thương”, rồi lại “sa dần vào những canh bạc như trước kia, đam mê, si cuồng” nghĩa là những thảm họa của vợ Mười Hòa vẫn còn đó. Nó khác hẳn cái triết lý “ác giả ác báo” xưa nay, Năm Mộc làm ác nhưng lại được “trời thương” được Hai Thìn giúp.

Đôi dòng nhận xét

Lời nguyền hai trăm năm là một tác phẩm hay với nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc. tác giả muốn truyền tải tới bạn đọc một thông điệp: dù thế nào cũng không được làm việc ác tâm và cái thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác. Với ý nghĩa cao đẹp như thế, lời nguyền hai trăm năm được đông đảo bạn đọc đón nhận và yêu mến.

tp
Bìa một số sách của tác giả Khôi Vũ

Nơi mua sách

Đây là một cuốn sách hay. Bạn đọc có thể mua sách ở các nhà sách hoặc trực tiếp tải file sách trên mạng.

Thông qua những biểu tượng như biển, cát, gió, rừng phi lao, con ó, cây đàn ống tre, bệnh trời hành, các nhân vật và sự kiện được khái quát một cách rõ nét nhất. Trong những biểu tượng này ta thấy xuất hiện những cổ mẫu như biển, cát, rừng cây, động vật… đây là những cổ mẫu xuất hiện nhiểu trong văn học. Tuy nhiên trong tiểu thuyết này còn có những biểu tượng được nhà văn sáng tạo như bệnh trời hành. Thông qua những biểu tượng này, giá trị nhân đạo mà tác giả muốn gửi gắm được thể hiện hết sức nổi bật. Đồng thời qua đó, tình yêu thương với con người, tinh thần hướng thiện và sự cảm thông, thương cảm với người phụ nữ cũng là những yếu tố khiến cho tác phẩm đặc sắc và thu hút bạn đọc.

Chúc bạn đọc vui vẻ! Hãy thưởng thức tác phẩm và phản hồi lại với mình nhé!

147 views