Bình giảng “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ

Loạn An Lộc Sơn xảy ra vào tháng 12 năm 755 và chỉ tan rã hoàn toàn sau tám năm. Nó tàn phá xã hội Trung Quốc .Trong thời gian này, Đỗ Phủ trải qua một cuộc sống trôi nổi, không thể định cư lâu dài ở đâu vì chiến tranh, cũng như nạn đói và sự bạc đãi của triều đình. Tuy nhiên, thời gian không hạnh phúc này khiến Đỗ Phủ trở thành một nhà thơ đồng cảm với những đau khổ, bất hạnh của người dân thường. Thực tế xung quanh, cuộc sống của gia đình ông, những người hàng xóm, những người qua đường– những điều ông nghe thấy và những gì ông hy vọng hay sợ hãi về tương lai– đã trở thành chủ đề chính trong những sáng tác của ông. Đồng thời qua đó, ông thể hiện tấm lòng chứa chan tình yêu nước. Và đặc biệt nổi bật trong đó là bài “Xuân vọng”. Bài thơ được viết vào tháng 3 năm 757, thể hiện hình ảnh mùa xuân buồn bã với cảnh vật thê lương, con người tiều tụy trong nỗi đau lòng vì nước mất nhà tan do chiến tranh loạn lạc.

đỗ Phủ
Đỗ Phủ

Thông tin cơ bản về sách (dùng câu khác cùng ý nghĩa)

Các bạn có thể tìm đọ bài thơ này tại cuốn “Đỗ Phủ tinh tuyển

  • Thể loại: Thơ
  • Tác giả: Phan Trần Chúc, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc học
  • Năm xuất bản:
  • Nhà xuất bản: văn học
  • Giá bán: 140 000

Sách phù hợp với nhiều đối tượng

Tất cả những ai có niềm đam mê với văn học Trung Quốc đặc biệt là thơ Đường thì đều có thể đọc cuốn sách này.

Vài nét về tác giả Đỗ Phủ

Đỗ Phủ (712–770), Hiệu Tử Mỹ, tự Đỗ Thiếu Lăng, là một nhà thơ Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường. Cùng với Lý Bạch, ông được coi là một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Tham vọng lớn nhất của ông là có được một chức quan để giúp đất nước, nhưng ông đã không thể thực hiện được điều này. Cuộc đời ông, giống như cả đất nước, bị điêu đứng vì Loạn An Lộc Sơn năm 755, và 15 năm cuối đời ông là khoảng thời gian hầu như không ngừng biến động.

Mặc dù không nổi tiếng từ đầu, những tác phẩm của ông gây ảnh hưởng nhiều đến cả văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Ông từng được các nhà phê bình Trung Quốc gọi là Thi sử  Thi thánh.

Trong các tác phẩm thơ của ông, đạo đức và lịch sử chiếm một phần quan trọng.

Bài thơ “Xuân Vọng”

Phiên âm

Quốc phá sơn hà tại,

Thành xuân thảo mộc thâm.

Cảm thì hoa tiễn lệ,

Hận biệt điểu kinh tâm.

Phong hoả liên tam nguyệt,

Gia thư để vạn kim.

Bạch đầu tao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trâm.

Dịch nghĩa

Nước bị tàn phá, còn sông núi,

Thành mùa xuân, cỏ cây âm u.

Cảm thời thế, hoa đầm nước mắt,

Đau biệt li, chim khắc khoải lòng.

Lửa hiệu liên miên đến ba tháng,

Thư nhà đáng vạn lạng vàng.

Đầu bạc, càng gãi tóc càng ngắn,

Dường không còn cài nổi cái trâm nữa!

Bài thơ là bức tranh mùa xuân dưới tầm nhìn của tác giả hoang tàn do khói lửa chiến tranh khiến cho hoa cũng đẫm lệ mà chim khắc khoải lòng ở bốn câu thơ đầu. Và sang bốn câu thơ cuối, đó lại là sự thể hiện nỗi lo buồn trông đợi tin nhà và sự tiều tụy của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan.

Bức tranh mùa xuân trong tầm nhìn của tác giả

Đỗ Phủ mở đầu bài thơ bằng việc phác họa cảnh vật trong cái nhìn bao quát:

Quốc phá sơn hà tại,

Thành xuân thảo mộc thâm.

(Nước bị tàn phá, còn sông núi,

Thành mùa xuân, cỏ cây âm u)

Kinh đô Trường An lúc này đã bị quân giặc chiếm, vua bị ép thoái vị và triều đình cũng đã tháo chạy, kinh thành bị tàn phá chỉ còn lại đám tro tàn đổ nát. Tác giả đứng tại một chỗ mà nhìn ra xa và nói “Nước bị tàn phá, còn sông núi”. Ở đây nói “còn sông núi” là ám chỉ xuyên suốt tầm nhìn của tác giả, kinh đô chẳng còn lại gì ngoài những dãy núi trùng điệp và lấp ló đâu đó những dải trăng trắng tựa những con sông. Tất cả đã bị quân giặc cướp hết. Mùa xuân là mùa tươi đẹp, cỏ cây xanh tt tưng bừng là thế nhưng tác giả lại nói: “Thành mùa xuân, cỏ cây âm u ”. Điều này chứng tỏ từ chỗ tác giả đứng, nhìn ra xa, xa tít tắp cũng chỉ thấy sông núi và um tùm cây cối chẳng có lấy một bóng người. Đỗ Phủ không nhìn thấy bóng dáng của con người trong khung cảnh ấy là bởi loạn An Sử nổ ra, chúng thẳng tay chém giết tất cả những người mà chúng gặp. Dân số Trung Quốc năm 754 có 52.9 triệu người, nhưng tới năm 764 chỉ còn lại 16.9 triệu, số còn lại đã bị giết hoặc bị dời đi. Hai câu thơ đầu là bức tranh Kinh đô đương buổi mùa xuân mà lại hoang vu và thê lương đến đau lòng bởi đất nước bị chiến tranh tàn phá.

Xuân đến trăm hoa đua nở, chim hót líu lo nghĩ thôi cũng thấy rộn rã trong lòng, thật tươi tắn và đáng yêu. Tuy nhiên, ở câu 3 và 4, tác giả cũng nhắc đến hoa, đến chim nhưng chúng lại mang một nỗi sầu u uất:

Cảm thì hoa tiễn lệ,

Hận biệt điểu kinh tâm.

(Cảm thời thế, hoa đầm nước mắt,

Đau biệt li, chim khắc khoải lòng)

Ở đây, đóa hoa xinh đẹp vì nhìn thấy cảnh tan cửa nát nhà cũng u sầu đến mức đẫm lệ. Chim thấy cảnh chia lìa mà ngưng tiếng hót và rồi chua xót trong lòng. Nghịch lí ấy là do tai họa quốc phá gia vong đem lại. Hoa và chim cũng mang tình cảm giống như con người, cũng biết rơi lệ và xót xa trước cảnh đau thương của đất nước. Sự chua xót của chú chim và những giọt nước mắt của đóa hoa xinh đẹp kia phải chăng cũng chính là giọt nước mắt và sự chua xót của chính tác giả. Thơ xưa thường rất ít khi nói về chính mình mà chỉ mượn hình ảnh, cảnh vật để qua đó gửi gắm tâm tư. Ở đây tác giả đã sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, gửi tình cảm nơi cảnh vật. Và có lẽ cũng giống như Đại thi hào Nguyễn Du đã từng viết :

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Nhìn cảnh nước mất nhà tan thì làm sao có thể vui cho được. Nếu như với Nguyễn Du, nỗi buồn trong lòng con người lớn dần lên bao trùm cả không gian, cảnh vật khiến chúng cũng buồn lây. Đó là điều bình thường, dễ thấy. Còn đối với Đỗ Phủ, nỗi buồn trong lòng ông chính là do cảnh hoang tàn đổ nát của đất nước mang lại. Ông cứ thế mà để tâm trạng buồn theo cảnh vật. Trên đời thật có mấy ai nhìn nỗi đau của người khác mà tự thấy đau trong chính mình.  Có lẽ chính bởi điều đó mà ông được tôn làm “Thi Thánh”. Hơn thế nữa, Đỗ Phủ lại là người luôn luôn có khao khát muốn được cống hiến, được giúp dân giúp nước. Hận nỗi bản thân quá nhỏ bé mong manh nên không làm được gì để cứu nước trong hoàn cảnh loạn lạc này. Phải chăng lúc này trong lòng ông cũng đang ngổn ngang nỗi đau nước nhà và khóe mắt thì chẳng ngăn nổi dòng lệ tuôn rơi… Còn một cách giải thích cho hai câu thơ này: hoa và chim vốn là cảnh vật đặc trưng cho mùa xuân và qua chúng tạo niềm vui trong lòng con người. Nay vì cảm thương cho thời thế và đau xót trước cảnh biệt li nên thấy hoa nở mà “đẫm nước mắt” nghe chim kêu mà “khắc khoải lòng”. Đây chính là tức cảnh sinh tình. Tuy nhiên, dù giải thích theo cách nào thì giữa chúng vẫn luôn tồn tại một điểm thống nhất đó chính là ở tác dụng thể hiện tình cảm của thi nhân đầy đau thương và chua xót.

Nỗi buồn lo trông đợi tin nhà và sự tiều tụy của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan.

Cảnh mùa xuân trong tầm nhìn của thi nhân khép lại ở bốn câu thơ đầu và mở ra tình cảm của nhà thơ với nỗi lo buồn trông đợi tin nhà và sự tiều tụy của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan ở bốn câu thơ cuối.

Trong thời bình, những người tha hương luôn mong ngóng quê hương, chờ đợi tin nhà ấy là lẽ tự nhiên. Nhưng nay, chiến tranh tàn khốc liên miên không dứt, mẹ cha, vợ con ở quê nhà ai còn ai mất cũng không hay. Bởi thế mà nỗi nhớ nhung mong ngóng lại thêm phần da diết hơn:

Phong hoả liên tam nguyệt,

Gia thư để vạn kim.

(Lửa hiệu liên miên đến ba tháng,

Thư nhà đáng vạn lạng vàng)

Câu thơ thể hiện nỗi lòng ngóng đợi nôn nao. Cũng như hậu phương ngóng tin kẻ chiến chinh, người chiến sĩ ở ngoài mặt trận cũng chờ mong thư nhà. Lúc này đúng là “Thư nhà đáng vạn lạng vàng”. Đọc câu thơ này và suy xét về nhan đề “Xuân vọng” của bài thơ ta ngộ ra rằng “Xuân vọng” không chỉ có nghĩa là trông xuân hay ngắm xuân hoang phế thê lương nơi kinh đô bị giặc giày xéo mà còn có nghĩa là giữa mùa xuân trông đợi một điều gì. Chữ “vọng” có nghĩa là “trông”: ngắm trông và trông mong. Ngắm trông là dùng mắt đề nhìn, trông mong là của tấm lòng. Mùa xuân là mùa tươi đẹp và dễ đem lại cảm giác hạnh phúc nhất cho con người. Ở đây tác giả đề “Xuân vọng” có thể hiểu theo nghĩa là tác giả đang mong ngóng đất nước của mình sớm được trở về với thời gian tươi đẹp, yên bình giống như trước khi vua ăn chơi xa đọa và loạn An Lộc Sơn chưa nổ ra. Lúc ấy, nhân dân ấm no, hạnh phúc, lòng của kẻ yêu nước như ông cũng không đau khổ như bây giờ. Thế nhưng, biết bao giờ điều ấy mới xảy ra? Ông mãi chờ mong trong đau đớn khôn cùng.

Năm 756 Huyền Tông buộc phải thoái vị, bỏ kinh đô tháo chạy. Đỗ Phủ, khi ấy đã rời kinh đô, đưa gia đình tới nơi lánh nạn và tìm đường đi theo triều đình mới của Túc Tông, nhưng trên đường đi ông bị quân nổi loạn bắt đưa về Trường An. Thương nước, thương nhà, thân mình thì đang bị giam, dù là giam lỏng nhưng cũng không có cách gì giúp nước, giúp nhà, bao nỗi đau khổ buồn lo trông đợi uất kết trong lòng, hiện ra nơi mái đầu bạc trắng.

Bạch đầu tao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trâm.

(Đầu bạc, càng gãi tóc càng ngắn,

Dường không còn cài nổi cái trâm nữa!)

Hai câu thơ cuối bài là cái kết đột ngột rất riêng của Đỗ Phủ. Thoạt đầu khi đọc, ta có cảm nhận như câu thơ thật sự rất thường chẳng phù hợp với danh hiệu Thi Thánh, Thi Sử. Nhưng ngẫm kỹ, ta lại thấy cái diệu kì ở đây. Thương nước lo nhà đến nỗi mái đầu bạc trắng. Chỉ qua một đêm ngỡ như già thêm cả chục tuổi. Ấy là nỗi lòng của kẻ yêu nước thương dân mà trách bản thân trí tài hèn mọn lại quá nhỏ bé giữa cuộc đời này nên chẳng giúp được gì cho dân cho nước. Ta gặp lại hình ảnh này trong bài “Bạch lộ” của Bạch Cư Dị:

Nhân sinh tứ thập vị toàn suy,
Ngã vị sầu đa bạch phát thuỳ.

(Người đời bốn mươi tuổi vẫn chưa già,
Ta vì lắm chuyện lo buồn nên tóc bạc.)

Hai tác giả gặp nhau ở nỗi lo dân, lo nước tới bạc đầu. Sau hình ảnh đầu bạc là hành động gãi đầu rất đỗi tự nhiên của tác giả cho thấy ông đang vô cùng bối rối, lo âu, sầu muộn và bất lực trước thực tại. Càng gãi tóc càng rụng nhiều đến nỗi chỉ còn lưa thưa những cọng ngắn chẳng thể cài được trâm lên đầu. Đàn ông Trung Quốc xưa để tóc dài, búi lại và cài trâm. Nay tóc rụng nhiều, búi tóc nhỏ lại chẳng thể giữ được cây trâm mà cài nữa. Mái tóc lơ thơ cho thấy người có mái ấy cũng rất tiều tụy mỏi mòn trong nỗi trông đợi lo âu, đau đớn. Nỗi đau trầm uất nơi trái tim hiện ra nơi mái đầu bạc, búi tóc tong teo. Vì đâu mà lại ra nông nỗi ấy? Đó chính là bởi nỗi đau nước mất nhà tan.

Nơi mua sách

Nhà sách khai tâm, Link giảm giá sách này ở đây.

Là nhà thơ hiện thực, Đỗ Phủ thừa nhận và đau lòng trước thảm cảnh quốc phá gia vong. Nhưng tấm lòng trung quân ái quốc của Đỗ Phủ vẫn còn mãi một niềm tin, trí tuệ và nhãn quan của một trí thức uyên bác khiến nhà thơ vẫn còn niềm hi vọng. Cũng chính vì niềm tin, hi vọng ấy mà sau đó ông đã liều mình trốn khỏi Trường An, thoát khỏi vòng vây của kẻ thù để tìm đến Phượng Tường, yết kiến hoàng đế Đường Túc Tông, Người vừa kế vị ngai vàng và đang lãnh đạo cuộc chiến tranh vệ quốc. Bài thơ là bức tranh mùa xuân dưới tầm nhìn của tác giả hoang tàn do khói lửa chiến tranh khiến cho hoa cũng đẫm lệ mà chim khắc khoải lòng và đồng thời đó lại là sự thể hiện nỗi lo buồn trông đợi tin nhà và sự tiều tụy của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan.

733 views