Ai mua mỹ nhân? – Câu chuyện kinh điển phá chấp, chuyển tâm!

Con người luôn có xu hướng chọn lựa và sở hữu những điều mình ưa thích. Trăm người trăm ý, nhưng tựu chung cũng không nằm ngoài những: tài, sắc, danh, thực,… nhằm làm thỏa mãn tấm thân này.

Cũng chính từ đây mà có mong cầu; mong cầu rồi lại muốn nắm giữ thật chặt; nắm giữ không nổi lại lo sợ được mất.

Cuối cùng là tự đẩy mình mắc kẹt trong vòng xoáy luẩn quẩn, đảo điên của tâm tham ái. Khổ đau, ai oán sinh ra, mà vẫn không hay biết tất cả do chính bản thân tạo nên.

Ai mua mỹ nhân?

Không sinh.. sẽ không diệt! Nhân sinh như huyễn.

Vì lòng từ bi, thương xót chúng sinh căn cơ còn thấp, mà vô minh không lối thoát, Đức Phật đã tùy theo duyên mà phá chấp, tùy chấp mà có các pháp giáo hóa, cứu vớt chúng sinh thoát khỏi bờ mê.

Ai mua mỹ nhân?!

Dưới đây, là một câu chuyện kinh điển, phá chấp, chuyển tâm, đã được ghi chép và lưu truyền lại như một bài pháp quý báu Đức Phật để lại cho tất cả chúng ta: Ai mua mỹ nhân?

1. Kỹ nữ Surimā đức hạnh

Cô kỹ nữ Surimā sau khi đắc quả Nhập Lưu, không những cô đã hoàn lương mà còn nhất tâm thu xếp đời mình để sống theo giáo pháp một cách thuần thục nữa.

Mùa an cư mãn hạ đã lâu, sợ đức Phật và chư tăng không biết sẽ tản mác ra đi du hóa lúc nào, nên nàng đến Trúc Lâm thưa bạch với đại đức Mahāpaṅthaka xin mỗi ngày được đặt bát cúng dường tám vị tỳ khưu tại tư gia.

Sau đó, nàng liền trích mười sáu đồng tiền vàng mỗi ngày, sắm sanh vật thực với đủ đầy những món cứng mềm thượng vị rất chu đáo. Sau khi chư tỳ khưu thọ thực tại chỗ xong, nàng sẽ tận tay, khi thì sữa chua, khi thì sữa tươi chia đầy bát cho các vị nữa.

Có một hôm nọ, một vị đại đức, sau khi độ thực xong tại nhà nàng, ông du hành đi đến một nơi cách xa thành phố, rồi ngụ tại một tịnh xá trong làng.

Trong lúc rảnh rỗi, các chư tỳ khưu tại trú xứ thăm hỏi sức khỏe của đức Thế Tôn, sau đó hỏi han đời sống tứ sự ở Trúc Lâm giờ ra sao; và riêng đại đức thì đi trì bình ở đâu, có đủ cứng mềm, ngon bổ không?

Vị đại đức nọ thành thật đáp lời:

– Khỏi nói! Tại Trúc Lâm, khi nào có đức Đạo Sư thì tứ sự sung mãn, không hề thiếu thốn thứ gì.

– Đúng là vậy rồi! Còn nếu đi trì bình trong kinh thành thì sao?

– Nơi nào cũng tạm đủ. Ngày nào cũng đủ no lòng. Tuy nhiên, có những lúc gặp những thí chủ đặc biệt.

– Đặc biệt ra làm sao?

– Ví như lúc nào họ cũng cúng dường thượng vị. Ví như lúc nào, họ cũng cúng dường thêm thức ăn như mật, đường, sữa tươi, sữa chua cả một bát đầy!

– Lúc nào cũng thế sao?

– Ừ, Có một nữ thí chủ đặc biệt hình như lúc nào cũng thế! Tròn vành vạnh. Lại còn biết cách cúng dường lễ độ, khéo léo. Ngôn ngữ thì dịu dàng, khả ái. Lại còn có nụ cười duyên dáng làm cho ai cũng thấy mê, thấy mệt!

Có một vị tỳ khưu trẻ nghe kể vậy, liền lần tới một bên, xen lời:

– Vì thấy mê, thấy mệt nên đại đức bỏ trốn từ đó về đây chăng?

– Không dám thế đâu! Nhưng quả thật là tôi đã thấy nguy hiểm thật đấy!

Một vị hỏi:

– Nữ gia chủ ấy đẹp lắm sao?

– Dĩ nhiên rồi! Đệ nhất kinh thành đấy!

Sau câu chuyện kể, vị đại đức còn vô tình cho biết thêm là không phải ai cũng tùy tiện đến tư gia cô ấy để khất thực được. Bởi tịnh xá Trúc Lâm được điều hành quy củ đâu ra đó. Tư gia cô gái kia mỗi ngày chỉ thỉnh tám vị, không dễ gì đến phiên mình đâu. Nhưng nếu ai biết cách, đi thật sớm, khi mặt trời vừa lên là có mặt ở phòng phát thẻ rồi. Tám vị tỳ khưu đầu tiên sẽ được vị đại đức tri sự trao cho tám thẻ tre ưu tiên đến nhà cô ấy.

Họ thắc mắc:

– Thế chư vị trưởng lão, họ đến sau, không có thẻ ưu tiên sao? Và nếu nhiều vị muốn đi, không phát sanh việc mất trật tự sao?

Vị đại đức cười:

– Chúng ta là phàm tăng nên mới đưa ra những câu hỏi như vậy. Từ khi mấy ông sư cứng đầu, lộn xộn bị chư trưởng lão tẩn xuất đi rồi thì Trúc Lâm rất bình yên, không có chuyện tranh trước, tranh sau đâu. Còn chư vị trưởng lão thì không bao giờ đến phòng phát thẻ, ngoại trừ có yêu cầu; và quý ngài cũng không cần bất cứ một ưu tiên nào cả. Quý ngài thọ dụng đâu cũng được, ngon dở, bổ béo gì, các ngài có để tâm đâu!

Chư tỳ khưu nghe xong, một vị nói:

– Đúng vậy! Chư trưởng lão là tấm gương cho chúng ta. Trường hợp là tôi, nếu cô ta dịu dàng, khả ái như thế, tôi cũng sẽ trốn chạy như đại đức vậy.

2. Vị tỳ khưu trẻ diện kiến mỹ nữ Surimā 

Riêng về phần vị tỳ khưu trẻ mới nghe qua chuyện cô nữ chủ, tuy chưa biết mặt mũi nàng ra sao, nhưng trong tâm mình đã nghe thấy xao xuyến, trái tim đã đập rộn trong lồng ngực. Không nói với ai, ông lặng lẽ thu dọn chỗ ở, ôm y bát bộ hành ngay trong đêm về Trúc Lâm tịnh xá. Vào sớm hôm sau, trời vừa hửng sáng thì vị tỳ khưu kia đã có mặt trong phòng phát thẻ. Thế là ông được đi bát tại tư gia kỹ nữ Surimā.

Thật không may cho vị tỳ khưu trẻ muốn diện kiến dung nhan của cô Surimā, thì nữ chủ đã bị bệnh từ chiều hôm trước. Tuy nhiên, cô cũng không quên dặn bảo gia nhân chăm lo chu đáo vật thực y như mọi ngày. Khi được báo  rằng chư tăng tám vị đã đến, nằm tại giường trong, nàng bảo:

– Này các em! Hãy thỉnh các ngài vào nhà an tọa, dâng nước uống, khăn thơm lau mặt. Sau đó, kiểm tra, soát lại lần cuối cùng vật thực đã chuẩn bị sẵn, thỉnh bát, chia sao cho đầy bát rồi dâng cúng đến quý ngài. Và nhớ nói rằng, gia chủ của con, đệ tử Surimā, hôm nay không may bị bệnh, không tận tay chia sớt bát cúng dường được, xin quý ngài cho nữ chủ chúng con được sám hối!

– Thưa chủ, vâng! – Các gia nhân vâng lời.

Một lát sau, gia nhân chạy vào thưa:

– Công việc đã xong xuôi cả rồi, thưa nữ chủ!

– Tốt lắm! Giỏi lắm! – Nàng thều thào, dáng vẻ dường như đã quá mệt – Hãy dìu ta ra bên ngoài để đảnh lễ quý ngài, nằm như thế này e là không được hay cho lắm, là thất lễ đó!

Rồi cô Surimā gắng gượng đi từng bước, đến phòng khách, nàng lảo đảo quỳ xuống đảnh lễ chư tăng. Vị tỳ khưu cao hạ nhất, ái ngại nói với cô rằng:

– Được rồi! Chúng tôi đều đã ghi nhận tấm lòng của cô! Cô hãy mau lui vào nghỉ ngơi đi.

Vị tỳ khưu trẻ nọ “phải lòng” cô, đã âm thầm quan sát mỹ nữ một hồi lâu, tự nhủ thầm trong tâm rằng: “Trời đất ơi! Cô ta bị bệnh mà còn đẹp nhường kia, huống hồ khi khỏe mạnh, bình thường?

Lại có thêm xiêm áo, điểm trang son phấn? Chắc chắn cô ta đã đánh cắp hằng trăm, hằng ngàn trái tim của vương tôn, công tử kinh thành Rājagaha này rồi!” Vị tỳ khưu càng nhìn ngắm mỹ nữ thì lòng ông càng như bị lửa nóng thiêu đốt.

Trong khi các vị khác còn ngồi độ thực tại chỗ, ông lật đật ôm bát đứng dậy, rồi thất thểu như người vô hồn, đi thẳng về Trúc Lâm. Vội vàng kiếm một phòng của khách tăng, vị tỳ khưu đặt nguyên bát vật thực còn nguyên trên kệ; đi đến giường nằm vùi, tơ tưởng mãi tới hình bóng của nàng Surimā trong trí óc.

Vậy là vị tỳ khưu trẻ ôm mối tình si chỉ một mình mình biết khó phân, khó giải suốt mấy hôm như thế, không ăn, không uống…

3. Cái chết của kỹ nữ Surimā…

Đến hôm kia, cả Trúc Lâm tịnh xá đều nhận được tin, cô Surimā, cận sự thánh đệ tử đã đột ngột qua đời do bệnh tim. Thần y Jīvaka đã đến ngay tức khắc nhưng vẫn không cứu kịp, cứ ngỡ là cảm sốt thông thường thôi. Đâu ai ngờ! Ngay chính đức vua Bimbisāra cũng bàng hoàng, sửng sốt vì Surimā là em gái của thần y Jīvaka, là kỹ nữ nối tiếng đệ nhất của kinh thành, lại là mang huyết thống hoàng gia. Và lễ hỏa táng của cô, nhà vua cũng muốn được  tham dự.

Rất đông chư tăng đã từng biết cô kỹ nữ, bàn tán xôn xao, gọi đó là “hồng nhan bạc mệnh”. Còn một số vị lại tỏ lòng cảm thương cô vừa trở về đời sống của một cận sự nữ thuần thành đã vội lìa đời quá sớm. 

Có vị biết sự si tình của tỳ khưu trẻ, đã đẩy cửa phòng vào báo tin cho bạn hay:

– Này! Cô Surimā đã mất rồi!

Đang nằm mê man bỏ ăn đã ba ngày, nhưng vừa mới nghe nhắc đến tên Surimā, ông đã vội vàng nhỏm ngay dậy. Sau khi nghe bạn kể hết sự tình về việc cô kỹ nữ đã từ trần, vị tỳ khưu trẻ ngồi thừ người rất lâu.

Đức Phật biết chuyện vị tỳ khưu si tình nên cho tôn giả Moggallāna đến báo cho thần y Jīvaka hay, là đừng vội hỏa táng thi hài Surimā, ngài sẽ đến nghĩa địa cùng với các Chư tăng.

Khi đức Phật và chư tăng đến nơi thì thần y Jivāka ra đón rồi dẫn ngài đến bên hỏa đài. Lát sau, đức vua Bimbisāra với nghi vệ thiên tử và tùy tùng cũng vừa xuống ngựa đến nơi.  Còn có rất nhiều quan khách, đa phần là những vương tôn, công tử có kỷ niệm, ấn tượng với cô kỹ nữ nên họ đến đây như để từ giã giai nhân lần cuối, người mà họ đã từng thầm yêu, trộm nhớ một thời.

Cô kỹ nữ xinh đẹp nằm nhắm mắt an lành trên giàn hỏa phủ đầy hoa, nhưng vẫn toát ra sự gợi cảm nhục dục một cách mãnh liệt, không khác gì lúc còn sống, làm cho không biết bao trái tim xung quanh phải xốn xang. Trong đó có vị tỳ khưu trẻ, ông đã núp trốn sau lưng vị tỳ khưu khác, nhưng đôi mắt thì đắm đuối, mê man bị cuốn hút vào thân xác vô tri. Và dường như ai ai cũng đang lặng im chiêm ngưỡng cái đẹp của tạo hóa sắp bị thần lửa mang đi.

Chợt Đức Phật bước đến sát bên giàn hỏa, tụng một bài kệ ngắn rồi nói thật lớn tiếng rằng:

– Như Lai đã tiễn biệt “con gái út” của Như Lai rồi đó! Ngài lại quay sang nói với thần y Jīvaka: Ông hãy cho che một mái rạp và cho cử người giữ gìn để nguyên thi hài cô mỹ nữ như vậy trong vòng bảy ngày. Như Lai sẽ có đề tài giáo hóa chúng sanh.

Rồi đức Phật quay sang đức vua Bimbisāra; và một cuộc đối thoại bí mật giữa họ, người thứ ba không ai nghe được:

– Bắt đầu từ ngày mai, phiền đại vương cho người rao khắp kinh thành: “Ai muốn mua đệ nhất mỹ nhân Surīma, nhà vua sẽ bán với giá một ngàn đồng tiền vàng!”

Đức vua chưa hiểu rõ ý, liền hỏi nhỏ:

– Vậy ai họ sẽ mua, bạch thưa đức Đạo Sư?

– Nếu ngày thứ nhất không ai mua thì hãy cho rao hạ giá xuống là năm trăm đồng tiền vàng!

– Thưa, nếu cũng không một ai mua?

– Thì hạ giá xuống tiếp còn một trăm, hai mươi đồng, một đồng, một cắc, một xu…  và cuối cùng là biếu tặng không! Đại vương hiểu ý Như Lai rồi chứ?

Đức vua mỉm cười, gật đầu:

– Thưa, Đệ tử hiểu tôn ý rồi!

Xong xuôi, đức Phật và đại chúng tỳ khưu quay trở lại Trúc Lâm tịnh xá. Mọi người su đó lần lượt giải tán.

Vào ngay hôm sau, quân lính đã đi khắp các ngả đường trong kinh thành, rao bán mỹ nữ Surimā với giá một ngàn đồng tiền vàng, loan truyền  từ nơi này sang nơi khác. Và không ai mua. Nên đến ngày thứ hai, toán lính rao truyền hạ giá xuống thấp nữa. Và tuần tự cứ thế hạ giá xuống một đồng, một xu; đến ngày thứ bảy, tặng không, biếu không cô mỹ nữ nhưng chẳng có một ai lên tiếng hỏi han!

4. Phá chấp sắc tướng!

Bài học làm người.

Chuyển hóa Tâm. – Phá chấp sắc tướng.

Đến ngày thứ tám, đức Phật và hội chúng tỳ khưu đến nghĩa địa thì đức vua, tùy tùng, hoàng gia và quan khách rất đông cũng đã có mặt đầy đủ. Và cũng chính ngay lúc ấy, chỉ có đức Phật và chư thánh lậu tận có thắng trí mới thấy rõ được cô kỹ nữ Surimā đã hóa sanh làm bà hoàng hậu của vua trời Suyāma ở cõi Yama; và cô đã cùng với năm trăm thiên nữ ngự trên năm trăm cỗ thiên xa đồng ngự xuống đảnh lễ đức Phật và đại chúng tỳ khưu.

Đức Phật liền chỉ tay vào thi hài, nói rằng:

  • – Quý vị hãy nhìn kia! Lúc còn sống, kỹ nữ Surimā được xem là đệ nhất mỹ nhân của kinh thành Rājagaha! Biết bao nhiêu thanh niên vương giả, quý tộc, đại phú gia, tiểu phú gia tranh giành nhau được cận kề mỹ nữ một đêm, phải trả đúng một ngàn đồng tiền vàng. Nhiều hơn, cô ta không cần, thiếu chút ít, kẻ tình si sẽ bị gia nhân tống ra khỏi cửa cho dù là một ông vua con! Cô ta làm vậy không phải vì tham vàng, ham bạc mà chỉ để chứng tỏ đẳng cấp và quyền lực của cái đẹp mà thôi!
  • – Này chư vị! Thuở sanh tiền, thức ăn vật uống tẩm bổ xác thân của nàng phải nói là ăn tinh, uống tủy. Việc giữ gìn nhan sắc, các vòng eo, vòng thắt phải nói là đã học hết “bí quyết” chân truyền của cổ xưa! Châu báu, kim ngân trang điểm của nàng với giá trị có thể mua đứt một chức quan tổng trấn! Xiêm áo, lụa là, phấn son… phải nói là có sẵn ở những cửa hiệu trứ danh của kinh đô Bārāṇasī hoa lệ.
  • – Như vậy đó! Giá trị thân xác mỹ miều gợi cảm và sắc đẹp “hoa ghen, liễu hờn” của nàng đã được thế gian tôn vinh, quý trọng quả thật là dùng ngôn từ không thể diễn đạt hết. Nhưng bây giờ thì sao nào?
  • – Trong bảy ngày qua, quân lính của đức vua đã khổ công rao bán nhưng chẳng ai thèm mua! Một xu, một cắc cũng không ai mua. Rồi đến cho không, biếu không, tặng không cũng chẳng ai đoái hoài! Tại sao vậy? Tại vì cái thể xác mê hồn kia, cái sắc đẹp quyến rũ ong bướm kia, bây giờ chỉ còn là một đống thịt thối cho giòi bọ tranh nhau, chỉ còn là một bọc máu mủ tanh tưởi cho ruồi lằn họp chợ! Rồi ngày qua tháng lại, nó chỉ còn như một trái bầu khô người ta quăng bỏ bên đường, chỉ còn là một đống xương trắng, chẳng có ai thích thú đứng ngắm nhìn cả:
  • – Này chư vị! Hãy thấy rõ sự thật của cái thân là như vậy! Là phải bị suy già, bệnh tật, ốm đau và dơ uế! Nó lại còn mong manh như gốm sứ dễ vỡ. Nó lại còn nguy hiểm như một cục ung bướu không biết ghim sẵn chỗ nào ở lục phủ, ngũ tạng? Nói cách khác là tất cả chúng đều bị thời gian làm cho thay đổi, biến hoại từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nói cô đọng hơn thế nữa, tất thảy pháp hữu vi đều bị định luật vô thường và vô ngã chi phối. Nó không chắc thật, không trường cửu, không ổn định, thường phát sinh sầu ưu, khổ não.

“Nhìn kia, thể xác mê hồn

Đống phân, hầm bệnh lại còn đớn đau

Bậm tâm lo trước, tính sau

Có chi bền vững mà cầu trường sanh?”.

Tếp theo đó, đức Phật thuyết liên tục mười bốn kệ ngôn rồi giảng giải rất chi li, khúc chiết về sự cấu tạo của thân gồm ba trăm khớp xương được ràng buộc bởi chín trăm sợi gân, được nối bởi bảy ngàn sợi dây thần kinh, được tô trét bởi chín trăm thớ thịt, bao bên ngoài bởi một làn da mỏng… Cái bao, cái túi da ấy đựng bên trong nào tim, nào phổi, nào thận, nào lá lách, nào gan, bao tử, ruột non, ruột già…

Trong bao tử, ruột non, ruột già thì chứa thức ăn cũ, mới và phân, sán lãi, vi trùng… Trong tim thì có máu đen, máu đỏ; tuy nhiên, màu sắc của nó còn tùy thuộc trạng thái tâm mà biến dạng, đổi màu.

Ví dụ người có tâm ái dục mạnh thì máu màu đỏ; tâm sân hận nhiều thì máu có màu đỏ sậm hay đỏ đen; tâm si mê nhiều thì máu có màu đỏ nhợt nhạt; tâm có đức tin nhiều thì máu đỏ thắm ửng vàng; tâm có trí tuệ thì màu máu đỏ trong…

Phá chấp, chuyển tâm!

Phật Pháp diệu kỳ – Ánh sáng giác ngộ!

Đức Phật nhấn mạnh sự bất tịnh của thân, nó chứa đầy ô trược và dơ dáy; thường bài tiết, rỉ chảy ra chín cửa như đại tiện, tiểu tiện, ghèn mắt, nước mũi, cứt mũi, đàm, nước bọt, nước miếng, ráy tai… Và ngay cả cái đầu của con người mà ai cũng quý trọng, nó cũng đáng nhờm gớm chẳng khác gì. Kẻ si mê không thấy rõ sự thật như vậy nên bị ngã ái, ngã kiến chi phối, sống bịt bùng trong ái dục, ngã mạn và dối lừa.

“Thành trì dựng cốt, bó xương

Đắp thêm máu thịt, tô hường, quét son

Mang thêm tật bệnh, tử vong

Chứa đầy ngã mạn lại gom dối lừa!”.

Được biết rằng, sau buổi thuyết pháp ấy, rất đông chư tăng và quan khách uống được hương vị pháp bảo. Hoàng hậu của đức vua Suyāma (cô kỹ nữ) đắc quả Bất Lai. Riêng vị tỳ-khưu si tình thì đã có cuộc chuyển hóa vĩ đại, ông đã đắc pháp nhãn, bước vào dòng giải thoát.

Đôi dòng chia sẻ

Câu chuyện kết thúc để lại thông điệp và giá trị giác ngộ quả thực không thể nghĩ bàn.

Chính bởi Đức Phật đã nhìn thấu tỏ, thông suốt mọi sự, nên Ngài dùng chính sắc tướng – một trong ngũ dục làm chúng sinh mê đắm, để phá chấp sắc tướng.

Thật sâu sắc và trí huệ!

Trước khi khép lại bài viết, xin gửi tặng tới độc giả 4 câu thơ về sự tỉnh thức, hốt nhiên đại ngộ dưới đây, để chúng ta cùng suy ngẫm:

“Thành, trụ, hoại, không… bởi do duyên

Nên đừng trói buộc sinh não phiền

Có hợp, có tan, thành chân lý

Sống kiếp vô thường vẫn an nhiên”.

(Trí Giải).

278 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá 5 / 5. Số đánh giá 7